Lễ Hội Thác Côn – Lễ cúng Dừa nét văn hóa độc đáo của người Khơmer Sóc Trăng

Tác giả: Công Quốc

Hàng năm cứ đến các ngày 15 – 17/2 theo Phật lịch của người Khmer, (nhưng thường tương ứng với rằm tháng Ba âm lịch). Tại xã An Trạch, thị trấn Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng diễn ra Lễ hội Thác Côn còn được dân gian gọi là lễ hội Cúng Dừa, vì thức cúng chủ yếu trong lễ hội này là hàng ngàn trái dừa tươi.

Chùa Mahasal Thatmon, nơi diễn ra lễ hội

Chùa Mahasal Thatmon, nơi diễn ra lễ hội

Lễ hội Thác Côn đã tồn tại gần trăm năm, gắn với truyền thuyết về chiếc Cồng Vàng của vùng An Trạch xưa. Truyền thuyết ấy kể rằng: Ngày xưa ở An Trạch tự nhiên nổi lên một cái gò hình dạng như chiếc cồng. Chân người dẫm lên phát ra âm vang như tiếng cồng. Được ít lâu, tiếng cồng trong gò đất nhỏ dần rồi mất hẳn.

Đồng bào Khmer xã An Hiệp huyện Châu Thành tổ chức lễ Cầu an Thác Côn, hay còn gọi là lễ Cúng Dừa, vì ai đến dự lễ này cũng phải mua một cặp dừa để cúng ông tà Thác Côn.

Nhân gian bèn lập một ngôi miếu thờ. Hàng năm, dân làng An Trạch cùng nhau tổ chức lễ hội cầu an ở miếu này và gọi đó là lễ hội Thác Côn. Trong tiếng Khmer, Thác Côn có nghĩa đạp cồng, gợi lại sự tích về tiếng cồng chiêng vang lên từ đất. Lễ hội Thác Côn có lệ cúng những chiếc bình bông làm bằng trái dừa. Nét độc đáo của vật cúng khiến người ta còn gọi lễ này bằng cái tên lễ Cúng Dừa.

Trước Miếu thờ Ông Tà Thác Côn, người ta thiết kế làm một cái vựa, được bao bọc bởi lưới sắt hình chữ nhật cao hơn đầu người. Cặp dừa đem cúng trong miếu đặt trước bàn thờ Ông Tà Thác Côn, cúng xong trái dừa được để vào trong lưới sắt để không tràn lan ra ngoài. Người ta cúng dừa với tín ngưỡng dân gian truyền thống, cầu cho “Tấm lòng trong trắng như nước ở trong trái dừa”.

Cho đến nay, vẫn chưa có ai khẳng định lễ Cúng Dừa xuất hiện từ thời điểm nào, bởi khi họ sinh ra thì lễ này đã được tổ chức hàng năm và bà con cứ làm theo truyền thống của người xưa. Tuy nhiên, theo các cụ trưởng bối kể lại, thì lễ này đã có niên đại trên 100 năm, vì khu vực này trước đây tàu, bè lưu thông được dễ dàng.

Dừa dâng cúng Phật

Dừa dâng cúng Phật

Chiếc bình bông làm bằng trái dừa

Chiếc bình bông làm bằng trái dừa

Theo tục truyền có một nhóm trẻ khi đang chăn trâu, phát hiện có gò đất nổi lên, chúng lấy chân đạp thử lên mô đất ấy, bỗng nhiên có tiếng vang vọng từ trong lòng đất phát ra “keng, keng, keng” như tiếng đánh cồng chiêng. Thấy lạ, mọi người ai cũng đến đạp thử, thì đều nghe tiếng vọng. Thời gian sau này, có một phụ nữ bụng mang dạ chửa cũng muốn đạp xem có nghe tiếng cồng chiêng như mọi người nói hay không? Khi chị lấy chân đạp lên mô đất, thì không nghe thấy gì nữa. Trước hiện tượng này, đồng bào Khmer đặt tên địa danh này là “Thác Côn” theo tiếng Việt là “đạp cồng chiêng”.

Lễ hội Thác Côn cũng như lễ Cầu an, Cầu phước của đồng bào Khmer nên tính chất nông nghiệp của nó thể hiện ngay trong các lễ vật dâng cúng là những thứ hoa trái giàu sắc thái bản địa của cộng đồng các dân tộc ở Đồng bằng sông Cửu Long như trầu cau, hoa sen và trái dừa. Các thứ hoa trái tượng trưng cho sự thanh khiết và thiêng liêng ấy tập trung trên một vật cúng hết sức đặc biệt mà đồng bào Khmer gọi là Slathođôn – bình bông làm bằng trái dừa. Phần cây bông được tạo thành bởi những lá trầu xanh và những bông hoa. Miếng trầu, lễ vật không thể thiếu trong các nghi thức đám cưới, giỗ cúng tổ tiên của các dân tộc ở Đồng bằng sông Cửu Long được cụm thành chiếc lá để trang trí cho Slathođôn.

Nghi thức cúng dừa làm cho lễ hội Thác Côn mang nét đặc trưng riêng với cảnh tượng ngoạn mục hiếm thấy ở bất kỳ lễ hội nào. Tuy nhiên, nhìn từ sự tích đến thời điểm tổ chức, từ lễ vật đến nghi thức cúng bái, Thác Côn là hình ảnh của một lễ cầu an, làm phước theo truyền thống văn hóa của đồng bào Khmer ở Nam bộ trong bối cảnh giao lưu về tập tục, tín ngưỡng của các dân tộc anh em trong khu vực.

Lễ hội Thác Côn của đồng bào Khmer ở Sóc Trăng thể hiện ước vọng về sự an lành, hạnh phúc, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, người người có được cuộc sống an lành, giúp người ta nhớ về cội nguồn, tổ tiên, ông bà để sống chan hòa và yêu thương nhau hơn. Đây là một nét đẹp văn hoá cần được duy trì, nhằm bảo tồn và phát huy.

Gửi phản hồi

Tin tức khác