Ba thể loại: Văn bia, Thần tích, Sắc phong đối với việc nghiên cứu lịch sử văn hóa truyền thống (Bài 1): Văn bia

Văn bia, thần tích, sắc phong là những di sản Hán Nôm qúy giá của dân tộc, ghi tải nhiều lĩnh vực về đời sống KT-XH của nước ta giai đoạn nhà nước phong kiến. Thế nhưng việc giải mã tìm hiểu về nguồn gốc, đặc điểm và những giá trị nội dung của từng thể loại vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều.

Bia Vĩnh Lăng (Khu di tích lịch sử Lam Kinh).

Bia Vĩnh Lăng (Khu di tích lịch sử Lam Kinh).

Văn bia là thuật ngữ chỉ văn tự khắc trên đá, dùng để “chí ” hoặc “ký” những sự việc cần ghi nhớ. Nó là hiện tượng văn hóa nảy sinh từ đời sống xã hội, nên có tính đặc thù và là hình thức thông tin phổ biến thời cổ đại và trung cổ. Văn bia xuất hiện khá sớm; truyền thống sáng tạo bắt nguồn từ Trung Quốc, sau đó được lan truyền sang các nước dùng chữ tượng hình như Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên.

Nguồn gốc

Xuất phát điềm Văn bia là những bài “minh văn” khắc trên đỉnh đồng, vò rượu có từ thời Thượng cổ nhà Chu (Trung Quốc). Thời thượng cổ, người ta thường dùng những bài văn giản đoản, khó hiểu khắc lên hiện vật bằng đồng ghi nhớ sự việc. Nhưng trong quá trình sử dụng, để thích ứng với nhu cầu thực tế, những hiện vật bằng đồng bị hạn chế, không đủ để ghi những thông tin cần ghi, người ta đã tìm đến một loại vật liệu mới là đá, một thứ tài nguyên sẵn có trong tự nhiên lại có độ bền bảo tồn lâu dài.

Ở Việt Nam, mặc dù bị ảnh hưởng việc tạo tác, soạn dựng của văn bia Trung Quốc, nhưng người Việt Nam đã biết cải biến cả hình thức lẫn nội dung để phù hợp với điều kiện văn hóa lịch sử của dân tộc mình. Từ những năm đầu thế kỷ thứ IV, người Việt Nam đã biết sử dụng văn bia để khắc ghi những nội dung cần truyền bá. Tấm bia có niên đại khoảng từ năm (314) đến năm (450) mới phát hiện năm 2013 tại thôn Thanh Hoài, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh. Đây là tấm bia có niên đại sớm nhất Việt Nam hiện nay. Tiếp đến là bia “Xá lợi mệnh tháp” dựng năm Tân Dậu niên hiệu đời Tùy (601) phát hiện ở chùa Thiền Chúng, huyện Long Biên, xứ Giao Châu. Tiêu biểu hơn cả là tấm bia “Đại tùy Cửu Chân quận Bảo An đạo tràng chi bi văn” khắc niên hiệu Tùy Đại Nghiệp thế kỷ thứ VI ở làng Trường Xuân (nay là xã Đông Ninh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa). Từ sau thế kỷ X, nhà Lý (1010 – 1225) đến nhà Trần (1225 – 1400), việc tạo tác, soạn ghi văn bia đã đạt đến trình độ chuẩn mực cả hình thức và nội dung. Văn bia chủ yếu đoạn này là ghi khắc các cột kinh chàng ở Hoa Lư, Ninh Bình và văn bia chùa: Báo Ân núi An Hoạch, chùa Linh Xứng núi Ngưỡng Sơn, chùa Hương Nghiêm núi Càn Ni, chùa Minh Tịnh… ở Thanh Hóa. Nội dung của những văn bia ngoài việc ghi chép về chùa còn tán tụng công lao, đức nghiệp của một số quan lại, vua chúa đã có công lao tu dựng chùa.

Thể loại

Cho đến nay việc phân loại văn bia còn có nhiều cách phân loại khác nhau. Theo Nguyễn Quang Hồng có phân văn bia ra làm 6 thể loại, tập hợp lại in trong tập: “Văn khắc Hán nôm Việt Nam”, bao gồm: “Bia Đình, bia chùa, đền miếu, Từ đường, lăng mộ- văn chỉ, vũ chỉ – cầu đò, chợ quán – núi động, thành quách”. Nhìn chung việc phân chia chỉ mới dừng lại thống kê văn bia theo nhóm di tích có nội dung tương đối tương đồng, do vậy dễ dẫn đến lầm tưởng thể loại này nằm trong thể loại khác.

Căn cứ vào công dụng của văn bia, có thể chia văn bia ra làm ba thể loại chính đó là:” Kỉ công bia văn, cung thất miếu vũ chùa quán bi và mộ bia văn”.

Kỉ công bia văn là dùng để thuật ghi lại công lao sự nghiệp của một người nào đó. Loại bia này có thể hiểu là nhóm bia hành thuật ca tụng công đức của chủ nhân lúc đương thời.

Cung thất miếu vũ chùa quán bi: Phàm thời xưa khởi công xây dựng việc lớn thông thường đục đá khắc bia. Đối với thể loại bia này, ngoài việc kiến dựng, sửa sang những cung thất, miếu vũ, chùa quán theo đó lập bia. Còn có rất nhiều các công việc khác được xếp vào thể loại của bia này như: Khơi sông, xây thành, tu sửa cầu đường thì cũng dựng bia ghi chép. Chính vì vậy loại bia này chiếm một số lượng tương đối nhiều. Nhưng xét về giá trị của văn chương dường như có sự khác biệt, độ chân chính có thể nhận được ít, ví dụ như bia văn thần miếu, ngoài việc ghi chép công việc khởi lập sửa chữa thần miếu, văn bia còn không tránh khỏi xưng tụng công đức pháp lực, linh nghiệm của thần, tôn xưng tông giáo, ngôn ngữ mê tín. Chỉ có số ít bia tuy là ghi chép về miếu vũ thần linh, nhưng lại kiêm cả tả viết hình thế núi sông, thắng cảnh đồng thời ca tụng biểu dương chính tích đức nghiệp của một số người, nên trong đó vốn có nét tài hoa văn chương.

Mộ bia văn: Thể loại này có số lượng khá lớn, xưa kia lúc chôn người chết, người ta lấy hai trụ đá chôn thẳng đứng ở trước sau quan tài, sau đó dùng cây gỗ buộc dây thừng đưa quan tài xuống huyệt để đánh dấu. Nhưng để phù hợp với nhu cầu thực tế, cách làm trên cũng bị hạn chế, người ta sợ lâu ngày không tìm được địa điểm chính xác nơi chôn quan tài chủ nhân, họ đã tìm những phiến đá khắc chữ ghi họ tên và thuật ghi công đức, sự việc chôn theo xuống mộ gọi là “mai minh hoặc chí minh”; và cũng có một loại dựng trên mặt đất, ghi chép hành thuật công lao người chết gọi là mộ bia, mộ ký, mộ bia minh, khoáng chí, khoáng minh, mộ kiệt, thần đạo bi, thần đạo biểu..; Nó thể hiện tính linh hoạt và tùy thuộc cách đặt tên của người soạn, vì thế mà chúng ta khó lý giải về những nét khu biệt của chúng. Nhưng có thể nhận thấy thể loại mộ bia có chung một chức năng là lấy việc ghi chép đức hạnh người mất làm chính, nó rất được các bậc hào môn phú quý và quan chức coi trọng. Họ muốn sau khi mất, việc khắc ghi tên tuổi, công đức, lưu truyền thiên cổ là điều cần đáng nên làm.

Chức năng chủ yếu của mộ bia là “ký nhân” tức ghi chép các nhân vật, do vậy bia mộ thường không quá lớn, một bài văn mộ chí thường không quá dài, thông thường một bài bia mộ ghi chép: thế hệ, tên tuổi, tước vị, hành trị, thọ niên, ngày tháng mất, con cháu và nơi an táng của người đã khuất.. Dĩ nhiên cách viết mộ bi, nó gần như là văn chương ký chuyện, rất khó định rõ. Giường như mỗi bài văn mộ đều thấy xuất hiện rất rõ ý đồ được nêu là “biểu dương sở trường, tránh miễn sở đoản”, tức là dương việc thiện mà che giấu việc ác. Những bài soạn thông thường đề cập đến công việc làm thiện và công lao đức độ của người chết trước đây, còn những việc xấu, ác ít thấy đề cập vì nó trái với đạo lý truyền thống .

Kết cấu văn bia

Kết cấu truyền thống của một văn bia thông thường có hai phần, phần trên là bài ký hoặc chí, phía sau là bài minh. Bài ký hoặc chí thông thường dùng tán văn, hoặc tán văn xen lẫn biền văn để ghi tải, bài minh thường sử dụng thơ bốn chữ năm chữ dùng theo thể văn vận, có chức năng ca tụng tóm lược nội dung bài ký hoặc chí đã nêu. Cũng có những văn bia phía trên có bài ký hoặc chí, phía sau không có bài minh, và ngược lại. Thể loại này người ta xếp nó vào loại phá cách, số lượng không quá nhiều.

Bố cục của một bài văn bia chia làm 4 phần: Tiêu đề tên bia, phần nội dung bài ký hoặc chí, niên hiệu ngày tháng dựng bia và lạc khoản ghi chép người soạn, nhuận sắc, người khắc.

Tiêu đề tên bia gồm: “tiêu đề chính và tiêu đề phụ”. Tiêu đề chính được khắc hàng chữ lớn theo chiều ngang từ phải qua trái (theo hướng người đọc nhìn vào bia), ngăn cách giữa phần trán và phần thân bia. Tiêu đề phụ là phần chữ nhỏ khắc theo hàng dọc ở dòng đầu tiên phía bên phải của văn bia. Thông thường cũng có văn bia có cả tiêu đề chính và tiêu đề phụ, có những văn bia có tiêu đề phụ mà không có tiêu đề chính, cũng có những văn bia không có cả tiêu đề chính và tiêu đề phụ, nói chung rất khó định hình và thiếu thống thống nhất. Nhưng phần lớn văn bia đều mang cả hai tiêu đề, thể loại này điển hình là triều nhà Lê.

Nội dung hành thuật: Đây là phần nội dung chính văn bia đề cập, tùy theo từng lĩnh vực, chức năng văn bia ghi chép. Thể thức sử dụng thông thường sử dụng ngôn ngữ tản văn, cũng có văn bia sử dụng tản văn xen lẫn biền văn, (thể loại văn bia dùng tản văn xen lẫn biền văn phần lớn rơi vào giai đoạn triều Lý – Trần đến đầu Lê sơ). Đặc biệt điểm dễ nhận thấy trong nội dung hành thuật là việc dùng điển tích điển cố để cho văn chương được điển nhã. Trong các bài văn người soạn văn thường lấy điển trong sách cổ Trung Quốc để ngụ ý không nói thẳng, đây là biện pháp tu từ đặc trưng trong văn bia, tức là dựa vào sự việc, lấy cái ý nghĩa tương tự, viện dẫn truyện cổ để chứng minh chuyện nay.

Niên đại ghi chép: Được ghi ở phía sau phần nội dung văn bia, nội dung ghi rõ ngày tháng năm và niên hiệu vua. Cũng có những văn bia ghi niên hiệu nhưng không ghi rõ năm, cũng có loại không ghi niên hiệu. Nói chung không thống nhất , những loại bia này khi xác định niên đại, phần nhiều dựa vào hoa văn chạm khắc, kiểu dáng dựng, đôi khi dựa vào các sự kiện được đề cập để xác định.

Tác giả soạn, người nhuận sắc: Nhân tố quan trọng nhất đóng góp cho linh hồn của văn bia chính là người soạn. Họ là những nhân vật nổi tiếng, những danh bút lúc đương triều, tạo lên sự thành công của tác phẩm. Người soạn văn bia được chia thành hai nhóm: Nhóm thứ nhất do những người đỗ đạt, danh bút lúc đương triều, nhóm thứ hai do những người hay chữ ở thôn quê đứng ra. Phần lạc khoản ghi tác giả soạn, phần lớn văn bia đều ghi tải, nhưng cũng có những văn bia không ghi tác giả soạn, chỉ ghi người khắc chữ. Cũng có những văn bia ghi rõ người nhuận sắc, vì nhuận sắc đồng nghĩa với việc sửa sang, trau chuốt, làm bài văn hay, trên cơ sở ấy nâng cao ý thức cho người soạn.

Trên đây là những hiểu biết cơ bản về thể loại văn bia, tuy nhiên cách lý giải này phần nào chỉ mang tính tương đối, để hiểu và phân biệt được rõ hơn, cần phải có một bài chuyên luận mới có thể lý giải hết.

Gửi phản hồi

Nguồn bài viết: Vanhoadoisong.vn

Tin tức khác