Bác Hồ với thơ Đường luật

Nguyễn Thanh Toàn

Bác Hồ không chỉ là nhà tư tưởng vĩ đại, vị lãnh tụ tối cao của cách mạng Việt Nam, Người còn là nhà chiến sỹ cộng sản kiệt xuất, đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và phong trào công nhân quốc tế. Bên cạnh đó Người còn được UNESCO tôn vinh, công nhận là Danh nhân văn hóa thế giới. Nghiên cứu về Người không dễ vì cuộc đời và sự nghiệp của Người là cả một kho tàng đồ sộ, là di sản quý giá của nhân loại. Dựa vào vốn hiểu biết hạn chế của mình và trên khuôn khổ một bài tiểu luận ngắn nên tôi không có tham vọng dàn trải mà chỉ chấm phá đôi nét trong mảng thơ Đường luật của Bác đã sáng tác mà tôi có dịp nghiền ngẫm.

1. Bác Hồ chịu ảnh hưởng của Thơ Đường luật ra sao?

Hiện nay, chưa có tài liệu nào minh chứng về những ngày đầu đến với thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo một tài liệu chưa chính thống ghi theo lời kể của nhà văn Sơn Tùng thì bài thơ đầu tiên (Trên Đèo Ngang) Bác làm năm 1895 (mới lên 5 tuổi): “Núi cõng con đường mòn/ Cha thì cõng theo con/ Núi nằm ì một chỗ/ Cha lại cúi lom khom/ Đường bám lì lưng núi/ Con thì chạy lon ton/ Cha siêng hơn hòn núi/ Đường hẳn lười hơn con”. Đây không phải là bài đúng niêm luật của thể Ngũ ngôn bát cú Đường luật, nhưng rõ ràng đã chịu ảnh hưởng bởi hình thức thơ và cách gieo vần, dù chỉ đối ý mà chưa đối từ.

Bài thơ “Ba Ông Phỗng” Bác viết năm 1903 (khi mới 13 tuổi) thì rõ ràng đã chỉn chu hơn theo thể thơ tứ tuyệt: “Kìa ba ông lão bé con con/ Biết có tình gì với nước non/ Trương mắt làm chi ngồi đó mãi/ Hỏi xem non nước mất hay còn”. Bài thơ vừa hóm hỉnh như tả thực lại vừa ý nhị lồng ghép ý tứ của một tầm nhìn thời đại vì Tổ quốc. So với bài của cụ Tam Nguyên Yên Đổ làm trước đó: “Ông đứng làm chi đó hỡi ông/ Trơ trơ như đá vững như đồng/ Đêm ngày gìn giữ cho ai vậy/ Non nước đầy vơi có biết không?” ta thấy trách nhiệm với “nước non” được nâng cao lên, không cam chịu “trơ trơ” nữa mà đã có những trăn trở thể hiện tinh thần trách nhiệm cao với thời cuộc.

Xét về thực trạng văn đàn nước ta thời Bác đang sống cũng như những năm trước đó, thể thơ Đường luật chữ Hán hoặc chữ Nôm đang được đa số các danh sĩ Nho học thời bấy giờ đều dùng thể thơ Đường luật sáng tác. Điển hình có thể kể đến như Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Phan Bội Châu… Kho tàng thơ Bác để lại là những tứ thơ mang hương vị Đường luật sâu sắc. Phải chăng lúc sinh thời, Người đã chịu ảnh hưởng lối thơ ấy từ những nhà Nho như ông ngoại và cha mình? Những bài thơ được viết dưới thể tứ tuyệt chữ Hán cũng được lưu truyền qua thời gian bởi những người yêu thơ Đường luật, chẳng hạn: “Nhật xuất đông phương nhất điểm hồng/ Nga mi phượng nhãn tự loan cung/ Mãn thiên tinh đẩu linh đinh tiếu/ Ô vân cái nguyệt ám mông lung” (Ban mai – Nguồn: Lê Xuân Đức).

Giới yêu thơ cả nước không ai không biết đến bài “Nguyên Tiêu” nổi tiếng của Người mang vẻ đẹp cổ điển, mẫu mực không thể thiếu trong “Ngày Thơ Việt Nam” bên cạnh bài “Nam Quốc Sơn Hà” của danh tướng Lý Thường Kiệt. Chúng ta càng không thể quên tập “Nhật ký trong tù” với 134 bài thơ chữ Hán đều viết bằng thể thơ Đường luật. Riêng bài thơ mang tính chiến đấu của Bác “Khán Thiên gia thi hữu cảm”: “Hiện đại thi trung ưng hữu thiết/ Thi gia dã yếu hội xung phong” đã trở thành kim chỉ nam, dẫn hướng cho các thế hệ nhà thơ cách mạng hiện đại.

2. Những thi đề, thi cảm chính trong thơ Đuờng luật của Hồ Chí Minh

Sinh thời Hồ Chủ tịch không thừa nhận mình là nhà thơ chính bởi Người là người con của dân tộc, của giang sơn gấm vóc và cả của thời đại nên Người không có thời gian nhiều cho thơ: “Ngâm thơ ta vốn không ham”. Tuy vậy, đọc những bài thơ của Người ta nhận ra quan điểm của Người khi làm thơ không đơn thuần là giải trí mà luôn bao hàm giá trị triết lý nhân sinh sâu sắc, đôi khi thể hiện thế giới quan, nhân sinh quan cách mạng, đôi khi là những bài học luân lý đời thường, có khi là lời khuyên, lời động viên hoặc kêu gọi… Nội dung tư tưởng trong thơ Người thường được chuyển tải một cách ý vị, dễ hiểu đến người đọc. Những giá trị nội dung trong thơ của Người khó có thể nắm bắt hết bởi “Ý tại ngôn ngoại”, ngoài ra, mảng thơ chữ Hán người sáng tác rất nhiều, chúng ta thường tiếp xúc với thơ Người qua bản dịch mà dịch giả khó lòng chuyển tải hết ý nghĩa trong nguyên tác. Trong khuôn khổ bài viết của mình tôi xin gói gọn bốn nội dung: 1. Tình yêu thiên nhiên – 2. Lòng yêu nước – 3. Tinh thần lạc quan – 4. Vạch ra chiến lược cho Cách mạng.

Thiên nhiên và non sông gấm vóc dưới góc nhìn của Bác luôn rất sống động, phong phú và đa dạng. Nó không chỉ là đối tượng để khai thác, miêu tả, là tác nhân cho xúc cảm thẩm mỹ bay cao và vươn xa, hơn thế nữa, nó còn tạo nên những giá trị thẩm mỹ tự nhiên cho tác phẩm nghệ thuật, tạo nên cốt cách của một thi sỹ – nhà hiền triết phương Đông Hồ Chí Minh rất độc đáo. Chính vì thế, thiên nhiên và non sông gấm vóc trong tình cảm và tâm hồn Người không còn là Cái Tự nhiên tự nó mà đã trở thành Cái Tự nhiên cho ta (ý của Hegel) – (theo Đỗ Ngọc Yên – Thiên nhiên và mùa xuân trong thơ Bác – Báo Điện tử Tổ quốc).

Có thể thấy thời niên thiếu Bác đã luôn trăn trở với thời cuộc qua bài thơ “Ba Ông Phỗng” (đã dẫn). Chỉ đến khi ở trong nhà lao của chính quyền Tưởng Giới Thạch, Bác mới có thời gian chiêm nguỡng cảnh sắc thiên nhiên, dù chưa phải thiên nhiên quê nhà: “Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ/ Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”(Ngắm trăng). Trăng trong thơ Bác đã được thi vị hóa để trăng và người đã trở thành đôi bạn, sẻ chia tâm sự, đối ẩm cùng nhau.

Trong một số bài thơ của Bác thiên nhiên luôn được soi sáng, thi vị hóa và chắp cánh dưới tầm nhìn, góc nhìn mới lạ: “Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ/ Chòm mây trôi nhẹ giữa từng không” (Chiều tối); “Núi ấp ôm mây, mây ấp núi/ Lòng sông gương sáng bụi không mờ” (Mới ra tù tập leo núi)… Thiên nhiên trong thơ Người luôn đẹp nhưng thiên nhiên của nước Việt không chỉ càng đẹp mà còn luôn đằm thắm, trữ tình, gần gũi thân quen và đáng yêu biết nhường nào. Trên chiến khu Việt Bắc, khi thư thả sau thời gian bận rộn việc quân, nhà thơ tướng quân Hồ Chí Minh đã để lại một thi phẩm bất hủ: “Kim dạ Nguyên Tiêu nguyệt chính viên/ Xuân giang xuân thủy tiếp xuân thiên/ Yên ba thâm xứ đàm quân sự/ Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền” (Nguyên Tiêu). Câu cuối là một tuyệt tác hiếm thấy, khó có thể dịch sát, đầy đủ bởi nói mãi vẫn không đủ từ ngữ để chuyển tải hết cái hay trong thơ.

Một trong những bài thơ hay khác về thiên nhiên là “Cảnh rừng Việt Bắc”: “Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay/ Vượn hót chim kêu suốt cả ngày/ Khách đến thì mời ngô nếp nướng/ Săn về thường chén thịt rừng quay/ Non xanh nước biếc tha hồ dạo/ Rượu ngọt, chè tươi mặc sức say/ Kháng chiến thành công ta trở lại/ Trăng xưa, hạc cũ với xuân này”. Thật thi vị, vừa lạc quan, vừa ung dung thư thái, hồn thơ hoà hợp với thiên nhiên, nghe âm thanh thiên nhiên qua tiếng “vượn hót chim kêu”, đặc biệt là ngây ngất bên cảnh cũ và Xuân với Người là đôi bạn tri kỷ, tri âm.

Cũng là trăng, là cảnh thiên nhiên nhưng đối với người tự do khác hẳn với tù nhân, thi sỹ khác hẳn với nhà thơ chiến sĩ, càng khác hơn với người lãnh đạo công cuộc kháng chiến thần kỳ của dân tộc. Bởi vậy, cốt cách, phong thái trong thơ Người cũng cao ngạo mà thật hào hùng nhưng vẫn ấm áp: “Hôm nay xiềng xích thay dây trói/ Mỗi bước leng keng tiếng ngọc rung/ Tuy bị tình nghi là gián điệp/ Mà như khanh tướng vẻ ung dung” (Vãng Nam Ninh). Thơ của Bác không cầu kỳ, nó rất mộc mạc, gần gũi nhưng ý tưởng lại vô cùng sâu sắc: “Tiếng suối trong như tiếng hát xa/ Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa/ Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ/ Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà” (Cảnh khuya). Những bài thơ tả cảnh thể hiện rất rõ cảm hứng dạt dào của Bác trước thiên nhiên. Có bài chỉ vài nét phác họa đơn sơ, song cũng có bài như một bức tranh sơn mài lộng lẫy. Nhưng bao trùm lên tất cả vẫn là vẻ đẹp phong phú, đa dạng của thiên nhiên. Mặc dù thân thể bị giam cầm trong ngục tối nhưng trái tim nhạy cảm của Bác vẫn dễ dàng rung động trước một ánh nắng mai rọi chiếu nơi cửa ngục âm u: “Trong ngục giờ đây còn tối mịt/ Ánh hồng trước mặt đã bừng soi” (Buổi sớm).

Thiên nhiên trong “Nhật kí trong tù” đẹp đẽ và ấm áp tình người. Nó thực sự trở thành nguồn động viên, an ủi to lớn đối với người tù đặc biệt Hồ Chí Minh: “Mặc dù bị trói chân tay/ Chim ca rộn núi, hương bay ngát rừng/ Vui say ai cấm ta đừng/ Đường xa âu cũng bớt chừng quạnh hiu” (Trên đường đi). Thân thể trong ngục tù nhưng Bác luôn lạc quan tin tưởng và sự tất thắng của con đường đã chọn. Tinh thần lạc quan thể hiện rất rõ trong nhiều bài thơ: “Phương Đông màu trắng chuyển sang hồng/ Bóng tối đêm tàn, quét sạch không/ Hơi ấm bao la trùm vũ trụ/ Người đi, thi hứng bỗng thêm nồng” (Giải đi sớm).

Khi bị giải từ nơi này qua nơi khác, bằng nét bút tài hoa của người nghệ sĩ, Bác đã vẽ nên bức tranh thiên nhiên hùng vĩ và trên cái nền hoành tráng đó, nổi bật lên tư thế hiên ngang của người chiến sĩ với quyết tâm vượt khó và tinh thần lạc quan tin tưởng vào tương lai tươi sáng của cách mạng: “Tẩu lộ tài tri tẩu lộ nan/ Trùng san chi ngoại hựu trùng san/ Trùng san đăng đáo cao phong hậu/ Vạn lí dư đồ cố miện gian” (Tẩu lộ). Sự hàm súc, cô đọng của ngôn từ cùng niêm luật nghiêm ngặt của thơ Đường không bó buộc nổi tứ thơ phóng khoáng và cảm xúc dạt dào của thi nhân.

Bài thơ “Học đánh cờ” lại mô tả tư tưởng chiến lược quân sự mô tả chiến lược mà các nhà lãnh đạo quân sự Việt Nam đã theo đuổi trong cả hai cuộc chiến chống Pháp và Mỹ (Lady Borton, Báo Quân đội nhân dân ngày 12/5/2005) được Bác viết theo lối Tứ cú đa khúc. Bác đã dùng thời gian nhàn rỗi trong tù, tổng kết kinh nghiệm và truyền thống để ghi lại bằng thơ: “Phải nhìn cho rộng suy cho kỹ/ Kiên quyết, không ngừng thế tấn công/ Lạc nước, hai xe đành bỏ phí/ Gặp thời, một tốt cũng thành công”. Tư tưởng “Lấy yếu thắng mạnh, dùng ít địch nhiều” của Nguyễn Trãi trong bài “Cáo Bình Ngô” được nhắc lại” “Lạc nước hai xe đành bỏ phí, gặp thời một tốt cũng thành công”. Phép “Vận trù học” của cả Trương Lương, đời Hán Cao Tổ (ngồi trong màn trướng biết chiến thắng ngoài ngàn dặm), lẫn Khổng Minh Gia Cát Lượng, đời Tam Quốc (ngồi trong lều tranh luận thời thế phân chia thiên hạ) được Hồ Chủ tịch tổng kết lại một cách ngắn gọn, dễ hiểu.

3. Những giá trị nghệ thuật sâu sắc

Như trên đã đề cập, Bác không coi mình là nhà thơ, nhưng trong suốt sự nghiệp vĩ đại của mình Người vẫn để lại cho chúng ta những áng thơ trác tuyệt mang những giá trị nghệ thuật cao. Trước tiên, chúng ta có thể khẳng định quan điểm sáng tác của Người là “Nghệ thuật vị nhân sinh” bởi phần lớn sáng tác đều hướng đến đất nước, đến cuộc cách mạng vĩ đại. Có những bài tự khuyên mình nhưng cũng ngầnm gửi gắm đến các đồng chí, đồng bào lời nhắn nhủ, sự động viên vượt qua nghịch cảnh tù đày để sống và tiếp tục cống hiến cho sự nghiệp chung. Bài thơ “Khán Thiên gia thi hữu cảm” có thể coi là lời Tuyên ngôn về đối tượng sáng tác của Bác (Sáng tác gì? Cho ai? Làm gì?) chứ không đơn thuần là “Cho khuây” như ở bài mở đầu tập “Ngục trung Nhật kí”.

Thơ của Bác Hồ luôn ngắn gọn, hàm súc nhưng vẫn đủ thanh thoát, mềm mại mà không đơn điệu. Bài “Cảnh khuya” (đã dẫn)là một trong những bài thơ như thế. “Tiếng suối trong như tiếng hát xa/ Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa/ Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ/ Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà” – Trong bài tứ tuyệt này, có đủ bức tranh thiên nhiên hữu tình, có âm thanh, hình ảnh hòa quyện vào làm nền cho con người thi nhân bận lo toan việc nước. Các thủ pháp nhân hóa, so sánh, liên tưởng được phối trộn tinh tế hòa quyện trong nhau. Trong bài “Tảo Giải” (đã dẫn): “Nhất thứ kê đề dạ vị lan/ Quần tinh ủng nguyệt thướng thu san/ Chinh nhân dĩ tại chinh đồ thượng/ Nghênh diện thu phong trận trận hàn” thì nghệ thuật và nội dung hòa quyện nâng cánh cho thơ. Cảnh thiên nhiên dù khắc nghiệt vẫn đủ thi vị trước phong thái hiên ngang, thách thức khó khăn gian khổ của người làm thơ chiến sỹ.

Ngoài việc chắt lọc từ ngữ, Bác thường sử dụng Nghệ thuật điệp từ, điệp ngữ trong khá nhiều bài. Điển hình là bài thơ “Tẩu lộ” (đã dẫn) với “Trùng san” đuợc ba lần lặp lại thật khéo léo và tinh tế. Bản dịch của Nam Trân cũng rất thành công và là một trong số ít bài dịch gần sát nghĩa như nguyên tác: “Đi đuờng mới thấy gian lao/ Núi cao rồi lại núi cao trập trùng/ Núi cao cao đến vô cùng/ Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non”. Tuy thế, câu đầu chưa nhấn bằng do Bác dùng “Tẩu lộ tài tri tẩu lộ nan” – Theo nguyên tác phải là người đi đường giỏi mới có khả năng nhận biết, chứ không phải ai cũng biết. Đó là chưa kể chữ “Đi đuờng” của Bác chưa chắc chỉ là con đường đơn thuần (“Đường Kách Mệnh” chẳng hạn)? Còn câu “Nghênh diện thu phong trận trận hàn” thì bản dịch còn xa mới theo kịp nguyên tác. Năm 1942, trong một bài TNBC Bác đã viết phê phán Quốc trưởng Pháp Henri Philippe Pétain đã đầu hàng phát xít Đức như sau: “Bán nước lại còn hô cứu nuớc/ Ô danh mà muốn đuợc thơm danh” (Báo điện tử Đảng Cộng Sản VN). Bài “Nguyên Tiêu” nổi tiếng với các điệp từ “Xuân”, “Nguyệt” ngập tràn cảm xúc. Nhà thơ Xuân Thủy dịch rất đạt nhưng câu cuối vẫn chưa thể sánh cùng nguyên tác.

Nghệ thuật thơ tứ tuyệt của Bác mang vẻ đẹp trong sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống với hiện đại, giữa tính dân tộc với tính quốc tế. Bác kế thừa tính cô đọng, hàm súc, ý tại ngôn ngoại của thể thơ Tứ tuyệt Đường luật cổ điển, tính đa nghĩa, sâu sắc của văn phong chữ Hán kết hợp hài hòa với phong cách hiện đại ở bối cảnh, nhân vật. Bối cảnh trong thơ Bác không thoát ly mà gần gũi với đời thường. Nhân vật trong thơ Bác là nhân vật hiện đại, là thi nhân, nhưng cũng đồng thời là chiến sĩ, đôi lúc là những người dân lao động mà Bác tình cờ bắt gặp (Vợ anh bạn tù, Cô em xóm núi, Cháu bé trong nhà lao Tân Cương…). Bài thơ “Học đánh cờ” (đã dẫn) được PGS. TS. Đặng Quốc Bảo liên tưởng đến phương châm “Dĩ bất biến – Ứng vạn biến” (cổ điển) phối hợp với một bài phân tích chiến lược kiểu Ma trận SWOT trong Kinh tế học và Xã hội học hiện đại (Theo Tạp chí Giáo dục Thủ đô số 23 – tháng 11/2011)…

Phản xạ, ứng đối nhanh nhạy trước mọi tình huống ở Bác có nét đặc trưng riêng, đã trở thành thói quen phù hợp với từng đối tượng tiếp nhận, thích ứng với mọi hoàn cảnh xung quanh. Đó là sự biểu hiện sinh động của một trí tuệ mẫn tiệp. Nhân dịp Nguyễn Hải Thần (NHT) được cử giữ chức P. Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam DCCH và sau đó được bổ sung vào Quốc hội không qua bầu cử và giữ chức P. Chủ tịch Chính phủ Liên hiệp, y đã làm thơ tặng Hồ Chủ tịch: “Gánh vác việc đời ông với tôi/ Con đường gai góc xẻ làm đôi/ Cùng chung đất nước, chung bờ cõi / Cũng một ông cha, một giống nòi / Ðành chịu nước cờ thua nửa ngựa/ Còn hơn miệng thế chế mười voi/ Mấy lời nhắn nhủ cùng ông biết/ Nước ngược buông câu phải lựa mồi”. Qua bài thơ, thấy rõ nhân cách NHT, dám dựa vào đất nước, giống nòi xui Hồ Chủ tịch đành chịu phần thua, lựa chiều lòng Trung hoa Quốc dân Ðảng. Hồ Chủ tịch họa lại: “Ông biết phần ông, tôi biết tôi/ Quyết giành thắng lợi, chẳng chia đôi/ Ðã sinh đầu óc, sinh tai mắt/ Nỡ bỏ ông cha, bỏ giống nòi/ Họ trót sa chân vào miệng cọp/ Tôi đành ghé đít cưỡi đầu voi/ Cờ tàn mới biết tay cao thấp/ Há phải như ai cá đớp mồi”. Bài thơ họa lại, lời lẽ đanh thép, thể hiện rõ tinh thần quyết vượt mọi hiểm nguy giành thắng lợi, phê phán thái độ hèn hạ ôm chân bọn Quốc dân Ðảng Trung Quốc, bỏ ông cha, bỏ giống nòi. Thật sắc bén, thật tài tình! (theo Đào Phong Lưu – Giai thoại văn học). Bác đã vận dụng chiến thuật “Gậy ông đập lưng ông” rất hay, sử dụng nhiều từ ngữ trong bài thơ tặng của NHT đã dùng để choảng lại y. Bác không câu nệ những lỗi bệnh mà người chơi thơ tránh như khắc tự để ra đòn nhanh, bịt họng đối phương. Chi tiết tiểu đối trong câu của Bác dùng “Ghé đít >< đầu voi” của Bác rất cao ngạo, thể hiện thế thượng phong, tư thế tất thắng không chỉ khiến kẻ “sa chân vào miệng cọp” cay như ngậm ớt mà còn giúp y hiểu rõ là ngàn đời bia miệng thế gian không thể rửa sạch vết nhơ “bán nuớc”.

*

Giá trị nội dung – tư tưởng và vẻ đẹp nghệ thuật của thơ Đường luật HCM vô cùng thâm sâu, độc đáo, không thể một sớm một chiều mà có thể nắm bắt, cảm nhận thấu. Tôi xin tạm dừng bài viết của mình tại đây. Cám ơn quý vị đã đọc, đã nghe và xin trân trọng những ý kiến phản biện, góp ý cho bài viết./.

Gửi phản hồi

Tin tức khác