Chế độ chính sách đối với cán bộ không đủ điều kiện về tuổi tái cử, tái bổ nhiệm

Tác giả: Hồ Đức Hiệp

Hiệu lực thi hành Nghị định mới bắt đầu từ ngày 01/5/2015, thay thế Nghị định số 67/2010/NĐ-CP ngày 15/6/2010 của Chính phủ.

(Ảnh minh hoạ)

(Ảnh minh hoạ)

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 26/2015/NĐ-CP ngày 09.3.2015 về việc quy định chế độ chính sách đối với cán bộ không đủ điều kiện về tuổi tái cử, tái bổ nhiệm giữ các chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sảnViệt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội thay thế Nghị định số 67/2010/NĐ-CP Về chế độ, chính sách đối với cán bộ không đủ tuổi tái cử, tái bổ nhiệm giữ các chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội.

Theo Nghị định mới, chế độ chính sách đối với cán bộ không đủ điều kiện về tuổi tái cử, tái bổ nhiệm còn dưới 2 năm (24 tháng) công tác sẽ được bố trí công tác phù hợp hoặc nếu không thể bố trí được công tác phù hợp sẽ được nghỉ công tác chờ đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại điều 5 Nghị định này.
Trong thời gian chờ đủ tuổi nghỉ hưu cán bộ trên vẫn thuộc quyền quản lý của cơ quan nơi công tác và được thực hiện chế độ chính sách hưởng nguyên mức lương chức vụ hoặc ngạch, bậc, phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề, mức chênh lệch bảo lưu lương, phụ cấp công tác đảng (nếu có). Trường hợp vị trí công tác mới không quy định mức lương chức vụ, phụ cấp chức vụ (không phải là chức danh lãnh đạo) hoặc có mức lương chức vụ, phụ cấp chức vụ thấp hơn mức lương chức vụ, phụ cấp chức vụ đã được hưởng thì được thực hiện bảo lưu mức lương chức vụ, phụ cấp chức vụ đã được hưởng trong 6 tháng từ tháng thứ 7 trở đi hưởng mức lương chức vụ hoặc phụ cấp chức vụ (nếu có) của vị trí công tác mới.
Ngoài ra, cán bộ không đủ điều kiện về tuổi tái cử, tái bổ nhiệm có thời gian đóng bảo hiểm xã hội 20 năm trở lên nếu tự nguyện nghỉ hưu trước tuổi gửi cơ quan quản lý cán bộ thì được hưởng chế độ hưu trí theo quy định của pháp luật về bảo hiển xã hội và được hưởng các chế độ, như: không bị trừ tỷ lệ lương hưu, được trợ cấp 3 tháng tiền lương cho mỗi năm trước khi nghỉ hưu trước tuổi so với quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 50 Luật Bảo hiểm xã hội, được trợ cấp 5 tháng tiền lương cho tổng số 20 năm đầu công tác có đóng bảo hiểm xã hội, từ năm thứ hai mươi mốt trở đi sẽ được ½ tháng tiền lương cho mỗi năm công tác có đóng bảo hiểm xã hội.
Riêng đối với cán bộ xếp lương chức vụ, nếu xếp lương bậc 1 của chức danh hiện đảm nhiệm từ đủ 48 tháng trở lên thì được xếp lên bậc 2 của chức danh hiện đảm nhiệm để nghỉ hưu và đối với cácn bộ xếp lương chuyên môn, nghiệp vụ và hưởng phụ cấp chức vụ lãnh đạo trong trường hợp chưa xếp bậc lương cuối cùng ở ngạch hiện giữ mà thời gian giữ bậc luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao không bị kỷ luật và tại thời điểm nghỉ hưu trước tuổi còn thiếu 1 đến 12 tháng để được nâng bậc lương thường xuyên theo quy định sẽ được nâng lương trước thời hạn. Trường hợp đang hưởng bậc lương cuối cùng hoặc đang hưởng phụ cấp thâm niên vượt khung ở ngạch hiện giữ, đã có bằng tốt nghiệp đại học và trong thời gian công tác 5 năm cuối trước khi nghỉ hưu không bị kỷ luật thì được nâng ngạch không qua thi nâng ngạch trên liền kề để nghỉ hưu.
Đối với cán bộ xã có hệ số phụ cấp khu vực 0,7 trở lên, cán bộ có thời gian tham gia quân đội, công an và được nhà nước tặng thưởng huân chương, huy chương các loại nếu có thời gian đóng bảo hiểm xã hộ 2,5 năm (30 tháng) trở xuống mới đủ thời gian đóng bảo hiểm xã hội 20 năm thì được Nhà nước hỗ trợ tiền đống bảo hiểm xã hội một lần cho thời gian còn thiếu để thực hiện chế độ hưu trí. Tiền lương tháng để tính trợ cấo được xác định bình quân tiền lương tháng lĩnh của 5 năm trước nghỉ hưu. Thời gian nghỉ hưu trước tuổi hoặc thời gian đóng bảo hiểm xã hội có tháng lẻ thì được tính như sau: Dưới 3 tháng thì không tính; từ đủ 3 tháng đến đủ 6 tháng thì được tính băngg ½ năm; từ đủ 6 tháng đến 12 tháng thì được tính bằng 1 năm. /.

Gửi phản hồi

Tin tức khác