Chính sách mới cho người hưởng bảo hiểm thất nghiệp năm 2015

Tác giả: Nguyễn Văn Hùng - Hồ Đức Hiệp

Người lao động nếu đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật sẽ không được hưởng bảo hiểm thất nghiệp. 

Picture3

Từ ngày 01/01/2015, chế độ bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) sẽ thực hiện theo quy định của Luật Việc làm 2013, thay cho quy định của Luật Bảo hiểm xã hội.
Tại thời điểm trước đây khi luật Việc Làm năm 2013 chưa có hiệu lực, doanh nghiệp sử dụng dưới 10 lao động không phải đóng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động.
Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2015, Luật Việc làm có hiệu lực, doanh nghiệp có sử dụng lao động, bất kể trường hợp-hợp đồng lao động thời vụ, xác định hay không xác định thời hạn cũng phải đóng bảo hiểm thất nghiệp 1% quỹ tiền lương tháng của những người lao động đang tham gia BHTN.
Với việc lương tối thiểu vùng được điều chỉnh tăng từ đầu năm 2015, vùng 1 là 3,1 triệu đồng, vùng 2 và vùng 3 lần lượt là 2,75 và 2,4 triệu đồng, theo đó chi phí lao động liên quan đến BHTN sẽ cao gấp 2,7 lần so với mức trần đóng BHTN hiện nay. Và, với quy định mới, doanh nghiệp phải tham gia BHTN cho người lao động tại tổ chức bảo hiểm xã hội trong thời hạn 30 ngày kể từ khi hợp đồng lao động có hiệu lực. Và khi lập thủ tục tham gia BHXH, BHTN cho người lao động, hiện nay, doanh nghiệp phải phân loại hợp đồng 12 tháng để đóng BHTN.

Theo quy định hiện nay, người lao động nếu có đủ từ 36 tháng đến dưới 72 tháng đóng BHTN sẽ được hưởng trợ cấp sáu tháng khi mất việc làm, tức không có sự khác biệt giữa người đóng 36 hay 72 tháng. Tuy nhiên so với hiện nay nếu đóng BHTN từ tháng thứ 36 là đã được lãnh 6 tháng lương thất nghiệp rồi, tương tự với các mức sau đó, và không phải chờ đến khi đóng đủ 72 tháng mới lãnh được 6 tháng lương thất nghiệp theo qui định từ 01/01/2015.
Trong khi đó, quy định mới thể hiện rõ hơn nguyên tắc đóng – hưởng, nghĩa là cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm một tháng trợ cấp thất nghiệp. Và người lao động đóng được 48 tháng BHTN sẽ được hưởng trợ cấp bốn tháng, thay vì sáu tháng như hiện nay.
Hiện nay người lao động hưởng trợ cấp hàng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN của sáu tháng liền kề trước khi thất nghiệp.
Với quy định mới phân định rõ mức đóng BHTN và hưởng giữa người lao động đóng theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định và đóng theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định, theo đó mức hưởng tương ứng là tối đa 5 lần mức lương cơ sở, và 5 lần mức lương tối thiểu vùng. Người lao động đang đóng BHTN theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định, mức đóng tối đa BHTN sẽ gần như gấp đôi mức hiện tại, nhưng mức nhận tối đa lại thấp hơn mức tối đa của hiện tại. Mức lương tối thiểu chung là 1,15 triệu đồng, và lương tối thiểu vùng 1 là 2,7 triệu đồng như hiện nay.
Theo Luật BHXH hiện hành, mức đóng BHTN tối đa là 230.000 đồng (tức 1% của 20 lần lương tối thiểu chung), nhưng theo quy định mới là 540.000 đồng/tháng (tức 1% của 20 lần lương tối thiểu vùng). Nhưng, mức hưởng BHTN tối đa lại giảm, vì không được quá 5 lần mức lương tối thiểu vùng hoặc tối thiểu chung với người lao động thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định. Theo quy định này nhằm tăng cường nguồn thu cho quỹ, đồng thời chia sẻ với người có thu nhập thấp khi trước mắt chưa có quy định thu BHXH, BHTN trên mức thu nhập của người lao động.
Bên cạnh đó, điều kiện để người lao động được hưởng trợ cấp thất nghiệp theo chương 6, mục 3, Luật Việc làm quy định chi tiết như sau: Điều 49. Điều kiện hưởng “Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật này đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây: 1. Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp sau đây: a) Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật; b) Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng; và 2. Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 43 của Luật này; đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 43 của Luật này; 3. Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này; 4. Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp, trừ các trường hợp sau đây: a) Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an; b) Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên; c) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; d) Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù; đ) Ra nước ngoài định cư; đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng; e) Chết.”

Và Điều 50. Mức, thời gian, thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp “1. Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp nhưng tối đa không quá 05 lần mức lương cơ sở đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định hoặc không quá 05 lần mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Bộ luật lao động đối với người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc. 2. Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp, cứ đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp, sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 01 tháng trợ cấp thất nghiệp nhưng tối đa không quá 12 tháng. 3. Thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính từ ngày thứ 16, kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này.”
Như vậy, người lao động nếu đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật sẽ không được hưởng bảo hiểm thất nghiệp.

Trả lời

Tin tức khác