Dấu xưa vùng đất cổ làng Nhồi

Tác giả: Nguyễn Văn Minh

Làng Nhồi còn có tên gọi khác là Nhuệ thôn, xưa thuộc 2 xã Đông Tân, Đông Hưng, huyện Đông Sơn. Nay thuộc phường An Hoạch, TP Thanh Hóa. Từ xa xưa, địa danh làng Nhồi không chỉ nổi tiếng ở xứ Thanh bởi phong cảnh tuyệt mĩ, mà còn lưu giữ đậm nét các giá trị lịch sử, văn hóa truyền thống của vùng đất và con người nơi đây qua hàng ngàn năm.

Hòn Vọng Phu trên đỉnh núi Nhồi xứ Thanh.

Hòn Vọng Phu trên đỉnh núi Nhồi xứ Thanh.

Trong không gian lịch sử – văn hóa làng Nhồi, nổi bật là quần thể khu vực núi Nhồi: Núi Nhồi (hay còn gọi An Hoạch, núi Khế, hoặc Nhuệ Sơn) là nơi cảnh sắc non nước hữu tình, hình thế của sự xen lẫn của núi, sông và xóm làng êm ả. Tương truyền, núi Nhồi từng là nơi tụ họp của các đạo sĩ để đàm đạo về cảnh đẹp.

Đỉnh núi Nhồi được tạo bởi những khối đá đồ sộ cao hơn 25m, trong tiềm thức của dân gian được hình tượng hóa thành “Vọng phu thạch” (đá trông chồng). Câu thơ còn lưu truyền trong dân gian Thanh Hóa: “Vọng phu trẻ mãi không già/ Thủy chung đứng đó biết là chờ ai?”

Hình tượng đó được tạo hóa khắc vào thiên nhiên như một biểu tượng sáng ngời cho vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam. Dẫu thời gian có đổi thay, nhưng tấm lòng thủy chung, son sắt của người vợ vẫn đứng đó chờ chồng.

Từ núi Nhồi nhìn về phía Tây là núi Đống, phía Tây Nam là núi Chân Thầy, núi Chồng Mâm (núi Đình Thượng) ở phía Bắc đứng liền kề nhau; cùng với núi Long và núi Mật ở phía Đông, núi rừng Thông ở phía Tây Bắc, núi Hàm Rồng ở phía Đông và núi Vức ở phía Nam… tạo nên quần thể núi đá kỳ vĩ. Núi Nhồi, được thiên nhiên kiến tạo bởi chất đá quý, hiếm nơi nào có được. Bởi thế đá núi Nhồi được các sách sử ghi nhận như: Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn, Thanh Hóa tỉnh chí, đặc biệt Đại Nam nhất thống chí đã ghi nhận rằng: “Ở phía Nam huyện Đông Sơn có một quả núi lớn gọi là núi An Hoạch, sản xuất nhiều loại đá đẹp. Đó là sản vật quý giá của mọi người, sắc đá óng ánh như ngọc lam, chất xanh biếc như khói nhạt. Sau này đục đá làm khí cụ, vì đẽo thành khánh đánh lên thì tiếng ngân muôn dặm, dùng làm bia văn chương để lại thì còn mãi mãi nghìn đời…”

Ngay từ thế kỷ III sau Công Nguyên đá núi Nhồi đã được khai thác làm khánh, xây dựng thành Thăng Long, chùa Diên Hựu, chùa Bút Tháp. Cuối thế kỷ XIV, nhà Hồ lấy đá xây thành Tây Đô, thế kỷ XVIII, Nguyễn Huệ lấy đá làm thành Phú Xuân (Huế), thế kỷ XIX, nhà Nguyễn lấy đá xây kinh đô Huế. Năm 1973 đá núi Nhồi góp mặt xây dựng lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Chủ nhân của núi đá quý đó đã sinh cơ lập nghiệp ở đây từ lâu đời, họ chính là cư dân làng Nhồi. Những người thợ làm nghề chạm khắc đá đã cùng tồn tại và phát triển với nghề hàng ngàn năm lịch sử. Theo sử sách, nghề làm đá núi Nhồi có từ lâu đời. Trải qua các thời đại phong kiến từ Đinh – Lê – Lý – Trần – Lê Sơ – Nguyễn, những người thợ chạm khắc đá làng Nhồi đã được huy động vào việc tạo dựng các công trình quan trọng của quốc gia như: Đúc đá núi Thiên Kiện, Khuẩn Mai thời Trần và các công trình kiến trúc tôn giáo như: đình, chùa, lăng tẩm, cung vua, phủ chúa. Dưới bàn tay tài hoa của người thợ chạm khắc đá làng Nhồi tạo dựng nên biết bao tác phẩm nghệ thuật độc đáo để lại ngàn đời.

Đặc biệt, dưới chân núi Nhồi còn lưu giữ một quần thể di tích lịch sử – văn hóa như: Chùa Báo Ân, chùa Hương Sơn, chùa Tiên Sơn, đền thờ Cao Sơn, Lăng Quận Mãn.

Chùa Báo Ân: Là ngôi chùa cổ nhất nơi đây, do Lý Thường Kiệt “Sai người dò núi tìm đá, rồi khởi công vào năm Kỷ Mão đến năm Canh Thân (1100) thì xong. Hiện nay, ngôi chùa không còn nữa, nhưng giá trị văn hóa vẫn còn được lưu truyền trong tiềm thức của nhân dân địa phương.

Chùa Hương Sơn: Là nơi thờ Phật, thờ Mẫu Thượng ngàn và Liễu Hạnh công chúa. Trong dân gian có người còn cho rằng đó là đền thờ nàng Tô Thị. Ngôi đền được xây dựng vào địa thế của một hang núi.

Chùa Tiên Sơn: còn gọi là chùa Quan Thánh nằm trên núi Khế. Chùa được xây dựng năm Hoằng Định thứ 10 (1609) đời Lê Kính Tông. Đến năm Cảnh Hưng thứ 16 (1756), quan trấn thủ Thanh Hóa là Lê Trung Nghĩa cho tu bổ lại.

Đền thờ Cao Sơn: Trên đỉnh núi Đống, còn gọi là đình Thượng. Đây là một trung tâm sinh hoạt văn hóa của làng Nhồi xưa, nơi thờ Thành hoàng “Ông tổ nghề đục đá”. Nét đặc biệt của ngôi đền là các đồ thờ như: ngai, sập, hương, hương án, voi, ngựa… đều được làm bằng đá núi Nhồi. Hiện nay đình Thượng không còn điện thờ, chỉ còn lại các di tích gồm hai voi, hai ngựa, hai quản mã.

Lăng Quận Mãn: Ở làng Nhồi, trên một khu đất trống nhìn thẳng vào núi có “sinh từ” của Quận công Lê Trung Nghĩa, thường gọi là Lăng Quận Mãn dựng năm 1756 đời vua Lê Hiến Tông (1470 – 1786). Di tích này gồm các tượng võ sĩ, có 4 bia đá lớn, loại hai mặt (gồm 3 bia Hậu thần và 1 bia Sinh từ), 2 voi, 2 ngựa, 2 tượng hổ, 2 rồng thềm bậc… Hiện nay, nhiều tác phẩm nghệ thuật bằng đá đã bị tàn phá hoặc mất mát bởi bàn tay con người. Tuy nhiên, di tích lăng Quận Mãn vẫn giữ được nét cổ kính, linh thiêng.

Giá trị văn hóa vùng núi Nhồi không chỉ ở hệ thống đền chùa, miếu mạo được hình thành qua nhiều thế kỷ, mà còn là giá trị di sản mỹ thuật đá được lưu truyền đến mãi ngàn năm. Núi Nhồi có thể xem một bảo tàng điêu khắc đá “độc nhất vô nhị” của xứ Thanh.

Trải qua biến cố thăng trầm của lịch sử, hiện nay làng Nhồi vẫn là làng nghề truyền thống chế tác đá nổi tiếng ở Thanh Hóa. Đặc biệt, vùng đất nơi đây hội tụ được các yếu tố: lịch sử, văn hóa, di tích, danh thắng, nghệ thuật kiến trúc điêu khắc, làng nghề… tạo nên giá trị đặc trưng của không gian lịch sử – văn hóa làng Nhồi. Góp phần làm phong phú và nâng cao giá trị di sản văn hóa phi vật thể của xứ Thanh. Hy vọng, được sự quan tâm, giúp đỡ của các cấp chính quyền, các ban, ngành và nhân dân địa phương, làng Nhồi sẽ trở thành một điểm đến hấp dẫn về du lịch văn hóa tâm linh, du lịch làng nghề đối với du khách trong và ngoài tỉnh.

Gửi phản hồi

Nguồn bài viết: Báo Văn Hóa & Đời sống Thanh Hóa

Tin tức khác