Di sản văn hóa Thời đại Tây Sơn trên đất Bình Định

Tác giả: Trương Nguyễn

Bên cạnh việc  đẩy mạnh hơn nữa giới thiệu, quảng bá giá trị những DSVH đã có để thu hút du lịch, kêu gọi XHH công tác trùng tu, tôn tạo di tích xuống cấp, báo chí cả nước, trước hết là báo chí Bình Định cần đi sâu phát hiện những DSVH mới về Thời đại Tây Sơn, về Quang Trung – Nguyễn Huệ trên đất  Bình Định. 

Binh Dinh 

1. Thời đại Tây Sơn

 Phong trào khởi nghĩa Tây Sơn dưới sự lãnh đạo của ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ mãi mãi đi vào lịch sử Việt Nam và lòng dân đất Việt như một khúc ca hùng tráng của thế kỷ XVIII, tiêu biểu cho sức sống phi thường của dân tộc, sức mạnh quật khởi của quần chúng nhân dân. Trong vòng 18 năm (1771-1789), dưới sự lãnh đạo của ba anh em nhà Tây Sơn, đặc biệt là Nguyễn Huệ – nhà quân sự thiên tài, từ một cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra ở một vùng quê miền núi – bán sơn địa Tây Sơn Thượng đạo – Tây Sơn Hạ đạo, Phong trào Tây Sơn đã phát triển thành một phong trào giải phóng dân tộc mạnh mẽ trên qui mô cả nước. Với những võ công hiển hách, Nhà Tây Sơn đã xóa bỏ nạn cát cứ phân quyền của các tập đoàn phong kiến Lê, Trịnh, Chúa Nguyễn chia cắt đất nước trên 200 năm, thống nhất đất nước về mặt lãnh thổ từ Bắc tới Nam, và đánh tan hai cuộc chiến tranh xâm lược của 5 vạn quân Xiêm ở Đàng Trong, 29 vạn quân Thanh ở Đàng Ngoài, giữ yên bờ cõi, mở ra một triều đại mới – Triều đại Tây Sơn, với nhiều dự định cải cách tiến bộ để phát triển đất nước. Sinh thời, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đánh giá: “Quang Trung là một vị Anh hùng và thời đại Tây Sơn là những trang sử vĩ đại bậc nhất của dân tộc”. Còn Đại tướng Võ Nguyên Giáp đánh giá: “Dưới ngọn cờ đại nghĩa của người anh hùng áo vải cờ đào, quần chúng nông dân cả nước ta đã vùng dậy đập tan ách thống trị của các tập đoàn phong kiến, thống nhất nước nhà, dân tộc ta từ Nam chí Bắc đều cùng nhau đứng lên chiến đấu một mất một còn, diệt giặc ngoại xâm trong những trận quyết chiến thần tốc, bảo vệ độc lập chủ quyền của đất nước. Đời đời bất diệt, tấm gương chói lọi của Nguyễn Huệ, người lãnh đạo kiệt xuất của quân khởi nghĩa Tây Sơn, người Anh hùng vĩ đại của dân tộc”.

 Với truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, Quang Trung – Nguyễn Huệ và những văn thần, võ tướng của nhà Tây Sơn có công lao to lớn với dân tộc được nhân dân ta biết ơn, tưởng nhớ thông qua hình thức lập đền miếu thờ phụng và tôn vinh các di tích gắn với cuộc đời và hoạt động của họ. Song, sau khi tiêu diệt được Nhà Tây Sơn, dưới danh nghĩa “vì chín đời mà trả thù”, Gia Long đã ráo riết thực hành chính sách “tận pháp trừng trị”, nhằm xóa sạch dấu tích của Thời đại Tây Sơn. Đối với những người đã chết, chúng cũng không để yên. Gia Long cho quật mồ vua Quang Trung, vua Thái Đức và mồ Nguyễn Lữ rồi băm xương, nghiền nhỏ cho quân lính đái vào, đầu lâu thì đóng gông giam trong ngục tối. Gia Long áp dụng chính sách “nhổ cỏ phải nhổ tận gốc”, nên hai con nhỏ của Ngọc Hân và Quang Trung mặc dù đã cải tên là Trần Văn Đức và Trần Thị Ngọc Bảo cũng bị bức hại. Chưa hết, năm 1823, triều đình Huế đã phái quan khâm sai về làng Nành (Gia Lâm – Hà Nội) trị tội giáng cấp Tổng đốc Bắc Ninh Nguyễn Đăng Giai, cách chức Tri phủ Từ Sơn, lột da nhồi trấu Chánh tổng. Bởi các vị quan này đã không phát hiện ra trên địa phận mình cai quản, bà Chiêu Nghi, dòng họ Nguyễn Ngọc và nhân dân làng Phù Ninh đã che giấu chính quyền nhà Nguyễn, bí mật thờ cúng và trông nom phần mộ ba mẹ con Bắc cung Hoàng hậu Ngọc Hân tại cánh đồng Cây Đại. Miếu thờ ba mẹ con Ngọc Hân bị đập phá, phần mộ ba mẹ con Ngọc Hân bị quật lấy hài cốt đưa xuống thuyền đổ xuống sông Dâu.

 Gia Long còn  hành hình bằng cách cho 5 voi xé xác  anh em vua Cảnh Thịnh (Quang Toản);  hành hình cực kỳ tàn bạo những nhân vật mà chúng gọi là “đầu sỏ” của “ngụy Tây” mà chúng bắt được như các tướng Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân,…; xóa sạch những gì Nhà Tây Sơn đã gây dựng nên trong 14 năm tồn tại. Sau Gia Long, Minh Mạng còn tiếp tục truy bức con cháu và các tướng lĩnh Tây Sơn trên cả nước, đặc biệt là trên đất Tây Sơn – Bình Định, dù họ đã lẩn trốn, mai danh ẩn tích. Từ sự phản bội Tổ quốc “cõng rắn cắn gà nhà, rước voi về dày mả tổ” và phản động về chính trị khi cho Tây Sơn là “ngụy triều”, là giặc; nhất là sự trả thù cá nhân ích kỷ, hèn hạ đã dẫn đến những tội ác “trời không dung, đất không tha” của Gia Long và các vua triều Nguyễn đối với nghĩa quân Tây Sơn. Hành động này kéo dài suốt thế kỷ XIX, làm cho không biết bao nhiêu đầu rơi, máu chảy và không biết bao nhiêu đền miếu thờ cúng anh em Nguyễn Huệ và các tướng sĩ Tây Sơn, cùng bao di tích trên khắp cả nước liên quan đến cuộc đời và hoạt động của họ bị hủy diệt. Người thân và những ai quí trọng tướng sĩ Tây Sơn không dám công khai thờ cúng, tu tạo hoặc đi tìm lăng mộ, dấu vết thời Tây Sơn và sống trong tâm trạng bất cứ lúc nào tai ương cũng có thể ập xuống. Chuyện kể về Tây Sơn cũng không còn chỗ đứng công khai trên quê cha đất tổ cũng như trên đất kinh đô cũ của Quang Trung.

 Tội ác, sự hèn hạ của Nguyễn Ánh – Gia Long và các vua triều Nguyễn đối với anh em nhà Tây Sơn và cả những người theo Tây Sơn, với DSVH thời đại Tây Sơn còn hơn cả tội ác của quân Trung Quốc xâm lược với âm mưu “Hán hóa” Việt Nam. Song, chân lý thuộc về nhân dân – những người làm nên Thời đại Tây Sơn. Những hành động trên của Gia Long và các vua triều Nguyễn không ngăn được quyết tâm ủng hộ nhà Tây Sơn, lòng yêu mến, tự hào và biết ơn Hoàng đế Quang Trung, các văn thần, võ tướng Tây Sơn của nhân dân ta. Bất chấp lệnh cấm, không sợ đầu rơi, máu chảy, bằng mọi cách, nhân dân ta vẫn giữ gìn DSVH của Thời đại Tây Sơn, cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể để trao truyền cho mai sau. Mỗi một di tích liên quan đến Nhà Tây Sơn còn tồn tại đến ngày nay từ quê hương Tây Sơn – Bình Định đến các địa phương khác trong cả nước đều gắn với một phương cách tài tình, một cách làm rất thông minh của nhân dân ta ở những nơi có di tích để che mắt quan quân Nhà Nguyễn. Ví như: Ở Gò Găng, ngôi nhà của ông bà Hồ Phi Phúc – Nguyễn Thị Đồng đã sinh ra và nuôi dưỡng 3 anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ bị quan quân nhà Nguyễn phá hủy, san bằng, nền nhà chỉ còn sót lại cây thị. Không thể để mất dấu tích ngôi nhà, bà con địa phương đã dựng một ngôi miếu dưới gốc cây thị, danh nghĩa là thờ Sơn Thần, song thực chất là để thờ ông bà Hồ Phi Phúc – Nguyễn Thị Đồng và 3 anh em Nhà Tây Sơn (gọi là miếu Cây Thị). Việc làm này đã che mắt được quan quân nhà Nguyễn.

 Việc lập ngôi đình Phú Lạc, cũng như vậy. Trên danh nghĩa là để thờ Thành hoàng bản cảnh, nhưng thực chất là để bí mật thờ cúng ông bà Hồ Phi Phúc và ba Ngài Tây Sơn (Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ) với hình thức tưởng niệm bằng hương hoa và mật cáo.

 Sau khi Đô đốc Bùi Thị Xuân bị Nguyễn Ánh giết hại dã man và nghiêm cấm thờ phụng bà, con cháu họ Bùi ở Tây Sơn đã bí mật lập bàn thờ Nữ Đô đốc tại chính ngôi nhà bà đã sinh ra. Hằng năm, con cháu tộc họ Bùi vẫn tổ chức ngày giỗ nữ Đô đốc (ngày mồng 6 tháng 11 âm lịch), dưới hình thức tưởng niệm bí mật theo lối mặc niệm để tránh sự phát hiện và trả thù của nhà Nguyễn.

 Ý nghĩa, tầm vóc vĩ đại của Phong trào Tây Sơn, của Triều đại Tây Sơn và cá nhân Quang Trung – Nguyễn Huệ cùng nhiều danh tướng kiệt xuất, nhiều văn thần lỗi lạc của Nhà Tây Sơn đối với lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta chỉ được nhìn nhận đúng, đánh giá cao dưới ánh sáng của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam và Bác Hồ lãnh đạo cách mạng nước ta, lập nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa; đặc biệt là từ khi cuộc kháng chiến chống Mỹ thắng lợi, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, ngày 30/4/1975. Theo đó, thân phụ, thân mẫu và ba anh em Nhà Tây Sơn Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ, cùng các văn thần, võ tướng nhà Tây Sơn được tôn vinh, phụng thờ; DSVH thời đại Tây Sơn, đặc biệt là DSVH vật thể, không ngừng được tìm tòi, phục dựng, trùng tu tôn tạo và phát huy giá trị trong công cuộc phát triển đất nước.

 Di sản văn hóa vật thể Thời đại Tây Sơn trên đất Bình Định

 2.1. Tại nơi phát tích Phong trào khởi nghĩa Tây Sơn

 Phong trào Tây Sơn khởi nghiệp buổi đầu là từ núi rừng Tây Sơn Thượng đạo (vùng đất thuộc các huyện An Khê, K’Bang, Konchoro tỉnh Gia Lai hiện nay), với ba anh em Nguyễn Nhạc (đồng bào gọi là Bok Nhạc), Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ. Quần thể Di tích Tây Sơn Thượng đạo gồm 16 di tích, là: Nhà trưng bày Tây Sơn Thượng đạo, đình An Lũy, thành An Lũy, Núi Ông Bình (Nguyễn Huệ), Núi Ông Nhạc (Nguyễn Nhạc), Cánh đồng Cô Hầu, Hòn đá Ông Nhạc, Núi Hoàng đế, Vườn Cam Tây Sơn, Bàu Mừng Quân, Miếu Xà,…Quần thể di tích Tây Sơn Thượng Đạo đã được xếp hạng Di tích lịch sử quốc gia (năm 1991)

 2.2. Tại huyện Tây Sơn

 Huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định là quê hương của ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ. Là cái nôi của phong trào, Tây Sơn đã đóng góp nhiều văn thần, võ tướng cao cấp – những người tâm phúc tin cẩn của Quang Trung – Nguyễn Huệ. Đồng thời cũng là nơi hạnh ngộ của nhiều người con ưu tú trong buổi đầu tụ nghĩa, cả người Kinh, người Thượng và người Chăm,…Những dấu tích về 3 anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ, về những danh tướng tài ba quê ở Tây Sơn và Phong trào Tây Sơn trên mảnh đất địa linh – nhân kiệt này vẫn được người dân Tây Sơn nâng niu, giữ gìn, thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” và để giáo dục truyền thống cho các thế hệ sau. Để đáp ứng nguyện vọng của nhân dân trong việc gìn giữ bảo tồn và phát huy các giá trị DSVH thời Tây Sơn và người Anh hùng Quang Trung – Nguyễn Huệ trên chính quê hương của người anh hùng, cho đến nay, rất nhiều nơi thờ tự, các di tích liên quan đến cuộc đời và hoạt động của ba anh em nhà Tây Sơn, nghĩa quân Tây Sơn đã được khôi phục và đưa vào hoạt động, Cụ thể:

 2.2.1. Di tích Gò Lăng

 Gò Lăng thuộc làng Phú Lạc, ấp Kiên Thành, nay là thôn Phú Lạc, xã Bình Thành, huyện Tây Sơn – là quê của bà Nguyễn Thị Đồng – thân mẫu của các thủ lĩnh Tây Sơn Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ. Tại Gò Lăng, trên nền đất cũ là nền nhà  của vợ chồng ông bà Hồ Phi Phúc và Nguyễn Thị Đồng, đã xây dựng một đền thờ, có kiến trúc theo dáng mái cong cổ kính, gồm 5 gian, thờ ông Hồ Phi Phúc và bà Nguyễn Thị Đồng, cùng dòng họ nội, ngoại những bậc tiền hiền có công khai lập làng cùng Tây Sơn Tam Kiệt. Tại đây có tấm bia Lăng mộ Hiển tổ khảo Tây Sơn do Hoàng đế Thái Đức – Nguyễn Nhạc xây dựng vào ngày lành tháng 2 năm Kỷ Hợi 1779. Di tích Gò Lăng đã được xếp hạng Di tích quốc gia (năm 1988)

 2.2.2. Di tích Bến Trường Trầu

 Bến Trường Trầu nằm bên tả ngạn sông Côn, cách cầu Kiên Mỹ (thuộc Khối 1, thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn) 200m về phía Tây. Đây là nơi giao lưu, trao đổi tin tức của nghĩa quân Tây Sơn trong giai đoạn tiền khởi nghĩa. Di tích đã được xếp hạng Di tích quốc gia (năm 1991).

 2.2.3. Di tích Gò Đá Đen (thuộc làng Kiên Mỹ)

 Gò Đá Đen có địa hình tương đối bằng phẳng, vốn là cánh rừng non, cây cối mọc bao phủ cả một vùng rộng lớn, phía Tây giáp với thôn Phú Lạc trải dài xuống phía Đông đến vùng Bàu Đáo, phía Nam là khu dân cư và chợ Kiên Mỹ, phía bắc là cánh đồng rộng lớn. Đây là căn cứ quân sự quan trọng của nghĩa quân Tây Sơn ở giai đoạn đầu khởi nghĩa. Nơi đây ba anh em nhà Tây Sơn tổ chức luyện tập binh sĩ, voi chiến, ngựa chiến, là điểm xuất phát của nghĩa quân Tây Sơn đi đánh chiếm thủ phủ Qui Nhơn và vùng lân cận khác.

 2.2.4. Di tích Tây Sơn điện

 Tây Sơn điện được xây dựng trên nền của ngôi đình làng Kiên Mỹ xưa. Sau khi nhà Tây Sơn mất, Gia Long đã thẳng tay đàn áp và tận diệt dòng họ Nguyễn Tây Sơn và những ai liên quan đến nhà Tây Sơn. Nhưng nhân dân làng Kiên Mỹ vẫn một lòng trung kiên, thành kính và biết ơn vô hạn đối với triều đại Tây Sơn. Thể hiện niềm tri ân đối với nhà Tây Sơn, vào năm Minh Mạng thứ 3 (1823), nhân dân địa phương đã góp công sức xây dựng một ngôi đình trên nền đất cũ của thân phụ, thân mẫu ba anh em nhà Tây Sơn vốn đã bị quân nhà Nguyễn san bằng, cỏ mọc um tùm từ lâu, lấy tên là đình làng Kiên Mỹ, trên danh nghĩa để thờ Thành hoàng làng, nhưng thực chất để bí mật thờ ba anh em nhà Tây Sơn. Ngôi đình nằm trong khu vườn với diện tích hơn hai nghìn m2, bên cạnh giếng nước, cây me cổ thụ do ông Hồ Phi Phúc trồng khi xưa. Việc cúng giỗ ba anh em nhà Tây Sơn vào ngày Rằm tháng 11 âm lịch, nhân tết cơm mới hàng năm để kỵ hiệp Tây Sơn Tam kiệt, mật cáo về nửa đêm hôm trước không có văn tế, sáng hôm sau mới giết mổ trâu bò tế thần và thết đãi dân làng. Ngày kỷ niệm Chiến thắng Đống Đa cũng hợp pháp bằng hình thức mặc niệm, nhân ngày cúng mừng đầu xuân mới. Vì thế, Sắc phong thành hoàng của triều Nguyễn không thờ ở đây mà đem ra thờ tại miếu Vĩnh An thuộc xóm Hưng Trung. Từ đó, nhân dân trong vùng có câu:

 “Ai cho miễu lớn hơn đình,

Bậu có chồng mặc bậu vẫn gọi mình bằng anh”.

 Trong 9 năm chống Pháp, đình đã bị bom đạn đốt cháy. Sau đó nhân dân lập miếu nhỏ dưới gốc cây me để bí mật thờ Ba Ngài Tây Sơn. Cây me đã đi vào câu ca:

 “Cây me, giếng nước sân đình

Ơn sâu, nghĩa nặng dân mình còn ghi”.

 Mặc dù trong hoàn cảnh đất nước chia cắt, sống dưới chế độ Mỹ ngụy, nhân dân làng Kiêm Mỹ vẫn góp công sức xây dựng lại đình Kiên Mỹ ngay trên nền cũ, chính thức lấy tên là Tây Sơn Điện vào năm 1958. Từ đó, việc thờ cúng ba anh em Tây Sơn và lễ hội kỷ niệm chiến thắng Đống Đa hàng năm đã trở thành ngày hội công khai.

 Sau khi đất nước thống nhất năm 1975, Đảng và Nhà nước cho phép tỉnh Nghĩa Bình (nay là Bình Định) xây dựng Bảo tàng Quang Trung bên cạnh khu di tích Tây Sơn Điện – giếng nước-cây me cổ thụ. Đến năm 2004, Điện Tây Sơn đón 9 pho tượng thờ  bằng gốm dát vàng , gồm: tượng ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ và 6 văn thần, võ thướng nhà Tây Sơn, là: Thượng thư Bộ binh Ngô Thì Nhậm, Trung thư lệnh Trần Văn Kỷ, Đại tư mã Ngô Văn Sở, Thiếu phó Trần Quang Diệu, Đô đốc Bùi Thị Xuân, Đại tư đồ Võ Văn Dũng.

 2.2.5. Di tích Từ đường họ Võ – nơi thờ Võ Văn Dũng (ở thôn Phú Mỹ, xã Tây Phú, huyện Tây Sơn)

 Sau khi Võ Văn Dũng bị Nguyễn Ánh giết cùng Trần Quang Diệu khi hai ông đang chiến đấu ở Nghệ An, con cháu ông tại quê nhà đã lập bàn thờ và bài vị để thờ cúng ông tại từ đường của dòng họ Võ. Do thời gian và chiến tranh, ngôi từ đường không còn. Năm 1945, ông Võ Văn Thiểu, cháu đời thứ 9 của Võ Văn Dũng xây cất lại ngôi nhà 7 gian trên đất nền từ đường họ Võ cũ. Đến năm 1972, ông Võ Văn Diệu đã xây dựng lại thành ngôi nhà 5 gian, tường gạch, lợp ngói. Hàng năm, cứ đến ngày mùng 8 tháng 2 âm lịch, con cháu dòng họ Võ cùng chính quyền và nhân dân địa phương lại tề tựu về ngôi từ đường này để thắp hương tưởng niệm Đại đô đốc Võ Văn Dũng – một võ tướng, một nhà ngoại giao tài ba, kiệt xuất thời Tây Sơn. Từ đường họ Võ là Di tích lịch sử văn hóa quốc gia (năm 1988).

 2.2.6. Di tích Từ đường họ Bùi – thờ Đô đốc Bùi Thị Xuân

 Sau khi Đô đốc Bùi Thị Xuân bị Nguyễn Ánh giết, con cháu của Bà đã bí mật lập bàn thờ bà tại chính ngôi nhà bà đã sinh ra, vốn là nhà của ông nội bà truyền lại cho bố bà là cụ Bùi Đắc Kế. Hằng năm, con cháu tộc họ Bùi vẫn tổ chức ngày giỗ Nữ Đô đốc (ngày mồng 6 tháng 11 âm lịch). Để tránh sự phát hiện và trả thù của nhà Nguyễn, dòng họ chỉ tổ chức tưởng niệm bí mật theo lối mặc niệm. Từ đường họ Bùi là Di tích lịch sử văn hóa quốc gia (năm 1988). Ngoài ngôi từ đường họ Bùi, tại quê hương Bùi Thị Xuân còn lưu giữ một số di tích và lưu truyền nhiều câu chuyện dân gian về gia đình và cuộc đời của bà, như: Vườn Dinh, Trường Võ, Gò Đình, …

 2.2.7. Đền thờ Đô đốc Bùi Thị Xuân

 Để tôn vinh công đức của Đô đốc Bùi Thị Xuân, năm 2005, tỉnh Bình Định đã xây dựng đền thờ bà ở một vị trí thích hợp trên quê hương Bà, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động văn hóa phục vụ nhân dân đến thắp hương tưởng niệm bà ngày một tốt và thuận tiện hơn. Công trình được khởi công ngày 20/9/2007 đến ngày 10/7/2008 khánh thành.

 2.2.8. Đàn tế Trời – Đất Ấn Sơn

Đàn tế Trời – Đất tọa lạc trên ngọn núi Ấn Sơn, thuộc địa phận thôn Hòa Sơn, xã Bình Tường, huyện Tây Sơn do ba anh em nhà Tây Sơn lập nên và làm lễ xin Trời – Đất trao cho ấn, kiếm lệnh để dấy binh khởi nghĩa, tiến quân ra Bắc. Tương truyền, vì cảm tấm lòng vì hai chữ Đại nghĩa, Trời – Đất đã linh thiêng trao cho 3 anh em kiếm lệnh và ấn lệnh. Ấn có hình vuông, mặt ấn khắc 4 chữ “Sơn hà xã tắc”. Nhờ có ấn, kiếm lệnh Trời – Đất ban cho, 3 anh em đã quy tụ được các nghĩa quân Tây Sơn, hoàn thành thắng lợi sự nghiệp diệt trừ bọn thống trị tàn ác, đánh đuổi giặc ngoại xâm,  thống nhất đất nước. Sự nghiệp thành công, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế lấy hiệu là Quang Trung. Nhưng vì phải lo toan nhiều việc lớn chống thù trong, giặc ngoài, lại không may mất sớm nên ông chưa về lại nơi đây để làm lễ tạ ơn Trời – Đất. Để tỏ lòng tôn kính và ghi nhớ công lao to lớn của nghĩa quân Tây Sơn, cũng là để khôi phục lại một di tích có ý nghĩa đặc biệt với Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ và các nghĩa quân Tây Sơn hơn hai trăm năm trước, UBND tỉnh Bình Định đã triển khai dự án xây dựng Đàn tế Trời – Đất và một số công trình du lịch ngay trên ngọn núi Ấn Sơn, nơi 3 anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ cùng nghĩa quân Tây Sơn làm lễ cáo yết Trời – Đất năm xưa. Khu tâm linh Đàn tế Trời – Đất Ấn Sơn tọa lạc trên khu đất có diện tích 46ha, là một quần thể kiến trúc đồ sộ, được bố trí theo trục / hướng Thần đạo Nam – Bắc, từ dưới chân núi lên đỉnh núi Ấn Sơn, nơi đặt đàn tế. Điểm đầu của đường Thần đạo (cũng là điểm bắt đầu đi lên đàn tế hành lễ), là các công trình phù trợ, gồm: nghi môn, sân luyện võ, khu nhà Ban quản lý di tích, chòi nghỉ, hồ bán nguyệt, miếu thờ Thổ công.

 2.3. Di tích Phủ thành Qui Nhơn

 Phủ thành Qui Nhơn (nay thuộc thôn Châu Thành, xã Nhơn Thành, thị xã An Nhơn, Bình Định), là căn cứ hành chính, quân sự của chính quyền Chúa Nguyễn. Năm 1773, nghĩa quân Tây Sơn từ Tây Sơn Thượng đạo đã tiến xuống đánh chiếm thành, giành chính quyền từ tay Chúa Nguyễn. Chiến thắng Phủ thành Qui Nhơn tạo cho nghĩa quân niềm tin về lần đầu tiên nghĩa quân dám đương đầu, dám đánh và đã đánh thắng chính quyền phong kiến chúa Nguyễn, tạo bàn đạp, tạo đà cho những trận đánh sau đó của Tây Sơn. Từ đó, phủ thành Qui Nhơn trở thành căn cứ quân sự của nhà Tây Sơn, có một ý nghĩa hết sức to lớn trong tiến trình đấu tranh của phong trào Tây Sơn. Ngày nay, dấu vết về Phủ thành Qui Nhơn còn lại không nhiều.

 2.4. Di tích Thành Chánh Mẫn (nằm ở Đông Bắc Phủ thành Qui Nhơn, thuộc địa phận thôn Chánh Mẫn, xã Cát Nhơn, huyện Phù Cát, Bình Định). Thành Chánh Mẫu là cứ điểm quân sự trọng yếu, được quân Tây Sơn xây dựng trên cơ sở lợi dụng địa hình, địa vật từ các phế tích của người Chiêm Thành và Chúa Nguyễn. Đây là một trong số ít những di tích thành lũy quân sự của phong trào Tây Sơn còn lại trên đất Bình Định. (Di tích quốc gia, năm 1995).

 2.5. Di tích Tân phủ Càn Dương (ở thôn Trường Thạnh, xã Cát Tiến, huyện Phù Cát, Bình Định), tọa lạc ngay dưới chân núi Càn Dương. Tân Phủ Càn Dương – một phủ lỵ, căn cứ thủy bộ trọng yếu trong hệ thống phòng thủ mạn Tây Bắc của thành Hoàng đế cũng như ven biển của quân Tây Sơn. (Di tích quốc gia, năm 1998).

 2.6. Di tích Thành Hoàng đế

 Thành Hoàng đế được Nguyễn Nhạc cho xây dựng năm 1776, trên nền phế tích thành Đồ Bàn do vua Chiêm Thành là Ngô Nhật Hoan xây dựng thế kỷ X. Đây vừa là căn cứ quân sự quan trọng, vừa là kinh đô (từ năm 1786 đến 1793) của chính quyền Trung ương Hoàng đế Thái Đức – Nguyễn Nhạc, gắn liền với quá trình phát triển của phong trào Tây Sơn từ giai đoạn đầu đến những trận giao chiến ác liệt cuối cùng của chính quyền Quang Toản với quân của Nguyễn Ánh. Di tích Thành Hoàng đế nằm trên địa bàn các thôn Nam Tân, Bắc Thuận xã Nhơn Hậu và thôn Bá Canh – Đập Đá, cách TP Quy Nhơn 2 km về phía Bắc.

 2.7. Di tích Bãi Nhạn – núi Tam Tòa

 Bãi Nhạn – núi Tam Tòa nằm đối diện nhau qua  cửa Thị Nại, như hai cánh cửa đóng, mở từ biển Đông vào đầm Thị Nại. Nơi đây có vị trí chiến lược rất quan trọng trong việc phòng thủ quân cảng Thị Nại và bảo vệ mặt Đông – Nam của thành Hoàng đế. Tàu bè muốn ra vào đầm Thị Nại không có con đường nào khác  là phải vượt qua hai cánh cổng này. Để bảo vệ “yết hầu” của căn cứ thủy binh đầm Thị Nại quân đội Tây Sơn đã chọn Bãi Nhạn – núi Tam Tòa làm hai cứ điểm đặt đại bác để khống chế mặt biển, chẹn đường thủy binh địch khi muốn tiến đánh thành Hoàng đế. Do binh lửa và thời gian, hiện nay, cụm di tích này chỉ còn phế tích là tam quan ngôi đền Tam Tòa (thờ Uy Minh Vương Lý Nhật Quang) dưới chân núi Tam Tòa của bán đảo Phương Mai. Trên cửa giữa của Tam quan có 3 chữ “Ngưỡng hồng ân” (dịch: Ngưỡng mộ ân đức của bề trên) (Di tích quốc gia, năm 1998).

 2.8. Di tích Mộ Lê Công Miễn

 Mộ Lê Công Miễn – danh nhân văn hóa tiêu biểu thời Tây Sơn tọa lạc ở thôn Luật Chánh, xã Phước Hiệp, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Lê Công Miễn giữ chức Hàn lâm thị độc triều Tây Sơn, đồng thời làm nhiệm vụ “Mật trực thụ thư” – giảng sách cho vua là Trung ương Hoàng đế Thái Đức – Nguyễn Nhạc. Sau khi vua Thái Đức mất, năm 1795, vua Cảnh Thịnh mời ông đến Kinh đô Phú Xuân giữ chức Đô sát viện đô ngự sử và giảng dạy ở Kinh Diên, ít lâu sau ông được thăng lên làm Thượng thư Bộ binh.

 Những vấn đề đặt ra và kiến nghị

 3.1. Về công tác tuyên truyền

 Di sản văn hóa Thời đại Tây Sơn nói chung, DSVH Quang Trung – Nguyễn Huệ nói riêng hiện chúng ta nhận diện được tập trung nhất là ở Bình Định chưa phản ánh hết tầm vóc vĩ đại, ý nghĩa hết sức to lớn của thời đại này và của Quang Trung – Nguyễn Huệ trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Vì vậy, bên cạnh việc  đẩy mạnh hơn nữa giới thiệu, quảng bá giá trị những DSVH đã có để thu hút du lịch, kêu gọi XHH công tác trùng tu, tôn tạo di tích xuống cấp, báo chí cả nước, trước hết là báo chí Bình Định cần đi sâu phát hiện những DSVH mới về Thời đại Tây Sơn, về Quang Trung – Nguyễn Huệ trên đất  Bình Định. Theo tôi, hướng phát hiện nên tập trung vào các chùa, đền, miếu, đình, nhất là các chùa, đền miếu, đình có niên đại thời Tây Sơn. Bởi, các di tích tôn giáo, tín ngưỡng này là nơi dân ta có thể che mắt chính quyền Nhà Nguyễn để cất dấu, lưu giữ nhiều DSVH, cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể về Thời đại Tây Sơn và Quang Trung – Nguyễn Huệ.

 3.2. Về công tác nghiên cứu

 Hiện nay, Bảo tàng Quang Trung (Tây Sơn – Bình Định) – Bảo tàng Danh nhân, có chức năng chính là sưu tầm và trưng bày hiện vật về thời đại Tây Sơn và Hoàng đế Quang Trung. Bảo tàng cũng đã tiến hành công tác nghiên cứu, song do nhiều hạn chế nên kết quả thu được còn hạn hẹp. Sự nghiệp nhà Tây Sơn và người Anh hùng Quang Trung – Nguyễn Huệ không chỉ có võ công hiển hách đánh thắng 5 vạn quân xâm lược Xiêm ở phía Nam, 29 vạn quân xâm lược nhà Thanh ở phí Bắc, thống nhất giang sơn về mặt lãnh thổ từ Bắc chí Nam, mà còn các mặt chính trị, kinh tế, giáo dục, văn hóa, y tế,…có nhiều đổi mới, hiện nay vẫn còn nguyên giá trị có thể học hỏi. Sự nghiệp ấy, những võ công hiển hách ấy, DSVH ấy rất cần được tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ, quảng bá rộng rãi để phát huy trong công cuộc phát triển đất nước hiện nay và mai sau. Ngày 03/1/1984, khi đến thăm Bảo tàng Quang Trung, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã có ý kiến: “Các đồng chí phải cố gắng tìm hiểu càng nhiều càng sâu thì càng tốt về cuộc đời và sự nghiệp của vua Quang Trung vĩ đại; ở đây phải xuất phát từ thực tế của lịch sử, không nên tự cho phép mình xa rời đòi hỏi nghiêm khắc này”. Để thực hiện lời căn dặn của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, và đẩy mạnh công tác nghiên cứu, quảng bá về Thời đại Tây Sơn và Quang Trung – Nguyễn Huệ, nên thành lập một Trung tâm nghiên cứu khoa học hoạt động theo hướng XHH để làm nhiệm vụ này. Hiện nay, Trung tâm Nghiên cứu BT&PHVHDT đã có Văn phòng đại diện tại Qui Nhơn. Theo tôi, UBND tỉnh Bình Định nên hỗ trợ mạnh hơn nữa để Trung tâm Nghiên cứu BT&PHVHDT có đủ năng lực thực hiện công tác sưu tầm, nghiên cứu, quảng bá giá trị và đề ra các giải pháp bảo tồn DSVH Thời đại Tây Sơn, đặc biệt là DSVH Quang Trung –Nguyễn Huệ ở trong và ngoài nước.

 Qua thực tiễn phong trào Tây Sơn khởi nguồn từ Tây Sơn Thượng đạo, với sự tham gia của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, chúng ta cần tiếp tục làm sâu sắc thêm vai trò đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên với Tây Sơn trước kia, cũng như với công cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước vừa qua. Qua đó, đề ra các giải pháp tăng cường đoàn kết dân tộc trên địa bàn chiến lược  Tây Nguyên trong bảo vệ chủ quyền, nhất là bảo vệ biển Đông hiện nay.

3.3. Dựng tượng đài Quang Trung trên những vùng/hướng quan trọng về địa chính trị – quân sự của Bình Định

 Cửa biển Thị Nại có vị trí quan trọng là yết hầu bảo vệ thành Hoàng đế của nhà Tây Sơn. Tại khu vực này, đã diễn ra nhiều trận thủy chiến, nơi đồn trú hải quân Tây Sơn. Theo tôi, nên dựng tượng đài Quang Trung tại cửa biển này. Oai linh của “Tướng nhà Trời” Nguyễn Huệ sẽ trấn ải, canh giữ Biển Đông. Đồng thời, cần khôi phục một số thuyền chiến Tây Sơn, mà theo sử sách, đây là loại chiến thuyền khá hiện đại, chở voi chiến, đại bác đi biển tốt và đã làm nên chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút năm xưa.

Gửi phản hồi

Tin tức khác