Di sản văn hóa vật thể Thời đại Tây Sơn – Thực trạng và những vấn đề đặt ra

Tác giả: TS. Nguyễn Minh San - Phó TBT Tạp chí Văn hiến Việt Nam

Di sản văn hóa Thời đại Tây Sơn nói chung, di sản văn hóa Quang Trung – Nguyễn Huệ nói riêng hiện chúng ta nhận diện được chưa phản ánh hết tầm vóc vĩ đại, ý nghĩa hết sức to lớn của thời đại này và của Quang Trung – Nguyễn Huệ trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.

Tay Son     

I. Di sản văn hóa vật thể Thời đại Tây Sơn

1. Thời đại Tây Sơn

Sự nghiệp của ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ; đặc biệt là của người Anh hùng dân tộc Quang Trung – Nguyễn Huệ và Phong trào Tây Sơn mãi mãi đi vào lịch sử và lòng dân như một khúc ca hùng tráng của thế kỷ XVIII, tiêu biểu cho sức sống phi thường của dân tộc, sức mạnh quật khởi của quần chúng nhân dân. Trong vòng 18 năm (1771-1789), dưới sự lãnh đạo của ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ; đặc biệt là Nguyễn Huệ – nhà quân sự thiên tài, từ một cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra ở một vùng quê miền núi – bán sơn địa Tây Sơn Thượng đạo – Tây Sơn Hạ đạo, Phong trào Tây Sơn đã phát triển thành một phong trào giải phóng dân tộc mạnh mẽ trên qui mô cả nước. Với những võ công hiển hách, Nhà Tây Sơn đã xóa bỏ nạn cát cứ phân quyền của các tập đoàn phong kiến Lê, Trịnh, Chúa Nguyễn chia cắt đất nước trên 200 năm, thống nhất đất nước về mặt lãnh thổ từ Bắc tới Nam, và đánh tan hai cuộc chiến tranh xâm lược của 5 vạn quân Xiêm ở Đàng Trong, 29 vạn quân Thanh ở Đàng Ngoài, giữ yên bờ cõi, mở ra một triều đại mới – Triều đại Tây Sơn, với nhiều dự định cải cách tiến bộ để phát triển đất nước. Sinh thời, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đánh giá: Quang Trung là một vị Anh hùng và thời đại Tây Sơn là “những trang sử vĩ đại bậc nhất của dân tộc”. Còn Đại tướng Võ Nguyên Giáp đánh giá: “Dưới ngọn cờ đại nghĩa của người anh hùng áo vải cờ đào, quần chúng nông dân cả nước ta đã vùng dậy đập tan ách thống trị của các tập đoàn phong kiến, thống nhất nước nhà, dân tộc ta từ Nam chí Bắc đều cùng nhau đứng lên chiến đấu một mất một còn, diệt giặc ngoại xâm trong những trận quyết chiến thần tốc, bảo vệ độc lập chủ quyền của đất nước. Đời đời bất diệt, tấm gương chói lọi của Nguyễn Huệ, người lãnh đạo kiệt xuất của quân khởi nghĩa Tây Sơn, người Anh hùng vĩ đại của dân tộc”.

Với truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, Quang Trung – Nguyễn Huệ và những văn thần, võ tướng của nhà Tây Sơn có công lao to lớn với dân tộc được nhân dân ta biết ơn, tưởng nhớ thông qua hình thức lập đền miếu thờ phụng và tôn vinh các di tích gắn với cuộc đời và hoạt động của họ. Song, sau khi tiêu diệt được Nhà Tây Sơn, dưới danh nghĩa “vì chín đời mà trả thù”, Gia Long đã ráo riết thực hành chính sách “tận pháp trừng trị”, nhằm xóa sạch dấu tích của Thời đại Tây Sơn. Đối với những người đã chết, chúng cũng không để yên. Gia Long cho quật mồ vua Quang Trung, vua Thái Đức và mồ Nguyễn Lữ rồi băm xương, nghiền nhỏ cho quân lính đái vào, đầu lâu thì đóng gông giam trong ngục tối. Gia Long áp dụng chính sách “nhổ cỏ phải nhổ tận gốc”, nên hai con nhỏ của Ngọc Hân và Quang Trung mặc dù đã cải tên là Trần Văn Đức và Trần Thị Ngọc Bảo cũng bị bức hại. Chưa hết, năm 1823, triều đình Huế đã phái quan khâm sai về làng Nành (Gia Lâm – Hà Nội) trị tội giáng cấp Tổng đốc Bắc Ninh Nguyễn Đăng Giai, cách chức Tri phủ Từ Sơn, lột da nhồi trấu Chánh tổng. Bởi các vị quan này đã không phát hiện ra trên địa phận mình cai quản, bà Chiêu Nghi, dòng họ Nguyễn Ngọc và nhân dân làng Phù Ninh đã che giấu chính quyền nhà Nguyễn, bí mật thờ cúng và trông nom phần mộ ba mẹ con Bắc cung Hoàng hậu Ngọc Hân tại cánh đồng Cây Đại. Miếu thờ ba mẹ con Ngọc Hân bị đập phá, phần mộ ba mẹ con Ngọc Hân bị quật lấy hài cốt đưa xuống thuyền đổ xuống sông Dâu.

Gia Long còn  hành hình bằng cách cho 5 voi xé xác  anh em vua Cảnh Thịnh (Quang Toản);  hành hình cực kỳ tàn bạo những nhân vật mà chúng gọi là “đầu sỏ” của “ngụy Tây” mà chúng bắt được như các tướng Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân,…; xóa sạch những gì Nhà Tây Sơn đã gây dựng nên trong 14 năm tồn tại. Sau Gia Long,  Minh Mạng còn tiếp tục truy bức con cháu và các tướng lĩnh Tây Sơn trên cả nước, đặc biệt là trên đất Tây Sơn – Bình Định, dù họ đã lẩn trốn, mai danh ẩn tích. Từ sự phản bội Tổ quốc “cõng rắn cắn gà nhà, rước voi về dày mả tổ” và phản động về chính trị cho Tây Sơn là “ngụy triều”, là giặc; nhất là sự trả thù cá nhân ích kỷ, hèn hạ đã dẫn đến những tội ác “trời không dung, đất không tha” của Gia Long và các vua triều Nguyễn đối với nghĩa quân Tây Sơn. Hành động này kéo dài suốt thế kỷ XIX, làm cho không biết bao nhiêu đầu rơi, máu chảy và không biết bao nhiêu đền miếu thờ cúng anh em Nguyễn Huệ và các tướng sĩ Tây Sơn, cùng bao di tích trên khắp cả nước liên quan đến cuộc đời và hoạt động của họ bị hủy diệt. Người thân và những ai quí trọng tướng sĩ Tây Sơn không dám công khai thờ cúng, tu tạo hoặc đi tìm lăng mộ, dấu vết thời Tây Sơn và sống trong tâm trạng bất cứ lúc nào tai ương cũng có thể ập xuống.  Chuyện kể về Tây Sơn cũng không còn chỗ đứng công khai trên quê cha đất tổ cũng như trên đất kinh đô cũ của Quang Trung.

Song, chân lý thuộc về nhân dân – những người làm nên Thời đại Tây Sơn. Những hành động trên của Gia Long và các vua triều Nguyễn không ngăn được quyết tâm ủng hộ nhà Tây Sơn, lòng yêu mến, tự hào và biết ơn Hoàng đế Quang Trung, các văn thần, võ tướng Tây Sơn của nhân dân ta. Bất chấp lệnh cấm, không sợ đầu rơi, máu chảy, bằng mọi cách, nhân dân ta vẫn giữ gìn di sản văn hóa của Thời đại Tây Sơn, cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể để trao truyền cho mai sau. Mỗi một di tích liên quan đến Nhà Tây Sơn còn tồn tại đến ngày nay đều gắn với một phương cách tài tình, một cách làm rất thông minh của nhân dân ta ở những nơi có di tích để che mắt quan quân Nhà Nguyễn.

Ví như:
– Ở Gò Găng, ngôi nhà của ông bà Hồ Phi Phúc – Nguyễn Thị Đồng đã sinh ra và nuôi dưỡng 3 anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ bị quan quân nhà Nguyễn phá hủy, san bằng, nền nhà chỉ còn sót lại cây thị. Không thể để mất dấu tích ngôi nhà, bà con địa phương đã dựng một ngôi miếu dưới gốc cây thị, danh nghĩa là thờ Sơn Thần, song thực chất là để thờ ông bà Hồ Phi Phúc – Nguyễn Thị Đồng và 3 anh em Nhà Tây Sơn (gọi là miếu Cây Thị). Việc làm này đã che mắt được quan quân nhà Nguyễn.

Việc lập ngôi đình Phú Lạc, cũng như vậy. Trên danh nghĩa là để thờ Thành hoàng bản cảnh, nhưng thực chất là để bí mật thờ cúng ông bà Hồ Phi Phúc và ba Ngài Tây Sơn (Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ) với hình thức tưởng niệm bằng hương hoa và mật cáo.
– Sau khi Đô đốc Bùi Thị Xuân bị Nguyễn Ánh giết hại dã man và nghiêm cấm thờ phụng bà, con cháu họ Bùi ở Tây Sơn đã bí mật lập bàn thờ Nữ Đô đốc tại chính ngôi nhà bà đã sinh ra. Hằng năm, con cháu tộc họ Bùi vẫn tổ chức ngày giỗ nữ Đô đốc (ngày mồng 6 tháng 11 âm lịch), dưới hình thức tưởng niệm bí mật theo lối mặc niệm để tránh sự phát hiện và trả thù của nhà Nguyễn.
– Tại một làng biển bên cửa biển Lạch Bạng trên đất Thanh Hóa, bất chấp lệnh cấm của triều Nguyễn, người dân làng Du Xuyên (xã Hải Thanh, huyện Tĩnh Gia), vẫn lập ngôi đền thờ Quang Trung bên dưới chân núi Liên Phong. Bởi người dân tỏ lòng biết ơn Quang Trung đã ban lệnh “Bãi bỏ lệ cung tiến yến sào” lấy ở đảo Hòn Mê cho dân làng Du Xuyên, từ đó, dân làng thoát khỏi nạn cống nạp nặng nề kéo dài bao đời vua chúa. Để tránh sự nhòm ngó của chính quyền nhà Nguyễn, nhân dân ở đây phải dùng nhiều hình thức bí mật để che mắt chúng. Trước khi cúng tế, mọi người phải mật báo cho nhau và tổ chức vào lúc nửa đêm về sáng. Khi tế lễ thì phải khấn thầm.

Ý nghĩa, tầm vóc vĩ đại của Phong trào Tây Sơn, của Triều đại Tây Sơn và cá nhân Quang Trung – Nguyễn Huệ  cùng nhiều danh tướng kiệt xuất, nhiều văn thần lỗi lạc của Nhà Tây Sơn đối với lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta chỉ được nhìn nhận đúng, đánh giá cao dưới ánh sáng của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam và Bác Hồ lãnh đạo cách mạng nước ta, lập nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa; đặc biệt là từ khi cuộc kháng chiến chống Mỹ thắng lợi, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, ngày 30/4/1975. Theo đó, thân phụ, thân mẫu và ba anh em Nhà Tây Sơn Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ, cùng các văn thần, võ tướng nhà Tây Sơn được tôn vinh, phụng thờ; di sản văn hóa thời đại Tây Sơn, đặc biệt là di sản văn hóa vật thể, không ngừng được tìm tòi, phục dựng, trùng tu tôn tạo và phát huy giá trị trong công cuộc phát triển đất nước.

2. Thực trạng di sản văn hóa vật thể Thời đại Tây Sơn

2.1. Di sản văn hóa vật thể Thời đại Tây Sơn trên đất Bình Định

2.1.1. Tại nơi phát tích Phong trào khởi nghĩa Tây Sơn

Phong trào Tây Sơn khởi nghiệp buổi đầu là từ núi rừng Tây Sơn Thượng đạo (vùng đất thuộc các huyện An Khê, K’Bang, Konchoro tỉnh Gia Lai hiện nay), với ba anh em Nguyễn Nhạc (đồng bào gọi là Bok Nhạc), Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ. Quần thể Di tích Tây Sơn Thượng đạo gồm 16 di tích, là: Nhà trưng bày Tây Sơn Thượng đạo, đình An Lũy, thành An Lũy, Núi Ông Bình (Nguyễn Huệ), Núi Ông Nhạc (Nguyễn Nhạc), Cánh đồng Cô Hầu, Hòn đá Ông Nhạc, Núi Hoàng đế, Vườn Cam Tây Sơn, Bàu Mừng Quân, Miếu Xà,…

Quần thể di tích Tây Sơn Thượng Đạo đã được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia (năm 1991)

2.1.2. Tại Tây Sơn – quê hương của nhà Tây Sơn

Huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định là quê hương của ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ – lãnh tụ của phong trào nông dân khởi nghĩa Tây Sơn thế kỷ XVIII. Là cái nôi của phong trào, Tây Sơn đã đóng góp nhiều văn thần, võ tướng cao cấp – những người tâm phúc tin cẩn của Quang Trung – Nguyễn Huệ. Đồng thời cũng là nơi hạnh ngộ của nhiều người con ưu tú trong buổi đầu tụ nghĩa, cả người Kinh, người Thượng và người Chăm,…Những dấu tích về 3 anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ, về những danh tướng tài ba quê ở Tây Sơn và Phong trào Tây Sơn trên mảnh đất địa linh – nhân kiệt này vẫn được người dân Tây Sơn nâng niu, giữ gìn, thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” và để giáo dục truyền thống cho các thế hệ sau. Để đáp ứng nguyện vọng của nhân dân trong việc gìn giữ bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa thời Tây Sơn và người Anh hùng dân tộc Quang Trung – Nguyễn Huệ trên chính quê hương của người anh hùng, cho đến nay, rất nhiều nơi thờ tự, các di tích liên quan đến cuộc đời và hoạt động của ba anh em nhà Tây Sơn, nghĩa quân Tây Sơn đã được khôi phục và đưa vào hoạt động, Cụ thể:

a. Di tích Gò Lăng

Gò Lăng thuộc làng Phú Lạc, ấp Kiên Thành, nay là thôn Phú Lạc, xã Bình Thành, huyện Tây Sơn – là quê của bà Nguyễn Thị Đồng – thân mẫu của các thủ lĩnh Tây Sơn Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ. Tại Gò Lăng, trên nền đất cũ là nền nhà  của vợ chồng ông bà Hồ Phi Phúc và Nguyễn Thị Đồng, đã xây dựng một đền thờ, có kiến trúc theo dáng mái cong cổ kính, gồm 5 gian, thờ ông Hồ Phi Phúc và bà Nguyễn Thị Đồng, cùng dòng họ nội, ngoại những bậc tiền hiền có công khai lập làng cùng Tây Sơn Tam Kiệt. Tại đây có tấm bia Lăng mộ Hiển tổ khảo Tây Sơn do Hoàng đế Thái Đức – Nguyễn Nhạc xây dựng vào ngày lành tháng 2 năm Kỷ Hợi 1779. Di tích Gò Lăng mang ý nghĩa thiêng liêng về cội nguồn, đã được Bộ VH xếp hạng di tích quốc gia (năm 1988)

b. Di tích Bến Trường Trầu

Bến Trường Trầu nằm bên tả ngạn sông Côn, cách cầu Kiên Mỹ (thuộc Khối 1, thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn) 200m về phía Tây. Đây là nơi giao lưu, trao đổi tin tức của nghĩa quân Tây Sơn trong giai đoạn tiền khởi nghĩa. Di tích đã được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích quốc gia (năm 1991).

c. Di tích Gò Đá Đen (thuộc làng Kiên Mỹ)

Gò Đá Đen có địa hình tương đối bằng phẳng, vốn là cánh rừng non, cây cối mọc bao phủ cả một vùng rộng lớn, phía Tây giáp với thôn Phú Lạc trải dài xuống phía Đông đến vùng Bàu Đáo, phía Nam là khu dân cư và chợ Kiên Mỹ, phía bắc là cánh đồng rộng lớn. Đây là căn cứ quân sự quan trọng của nghĩa quân Tây Sơn ở giai đoạn đầu khởi nghĩa. Nơi đây ba anh em nhà Tây Sơn tổ chức luyện tập binh sĩ, voi chiến, ngựa chiến, là điểm xuất phát của nghĩa quân Tây Sơn đi đánh chiếm thủ phủ Qui Nhơn và vùng lân cận khác.

d. Di tích Tây Sơn điện

Tây Sơn điện được xây dựng trên nền của ngôi đình làng Kiên Mỹ xưa. Sau khi nhà Tây Sơn mất, Gia Long đã thẳng tay đàn áp và tận diệt dòng họ Nguyễn Tây Sơn và những ai liên quan đến nhà Tây Sơn. Nhưng nhân dân làng Kiên Mỹ vẫn một lòng trung kiên, thành kính và biết ơn vô hạn đối với triều đại Tây Sơn. Thể hiện niềm tri ân đối với nhà Tây Sơn, vào năm Minh Mạng thứ 3 (1823), nhân dân địa phương đã góp công sức xây dựng một ngôi đình trên nền đất cũ của thân phụ, thân mẫu ba anh em nhà Tây Sơn vốn đã bị quân nhà Nguyễn san bằng, cỏ mọc um tùm từ lâu, lấy tên là đình làng Kiên Mỹ, trên danh nghĩa để thờ Thành hoàng làng, nhưng thực chất để bí mật thờ ba anh em nhà Tây Sơn. Ngôi đình nằm trong khu vườn với diện tích hơn hai nghìn m2, bên cạnh giếng nước, cây me cổ thụ do ông Hồ Phi Phúc trồng khi xưa. Việc cúng giỗ ba anh em nhà Tây Sơn vào ngày Rằm tháng 11 âm lịch, nhân tết cơm mới hàng năm để kỵ hiệp Tây Sơn Tam kiệt, mật cáo về nửa đêm hôm trước không có văn tế, sáng hôm sau mới giết mổ trâu bò tế thần và thết đãi dân làng. Ngày kỷ niệm Chiến thắng Đống Đa cũng hợp pháp bằng hình thức mặc niệm, nhân ngày cúng mừng đầu xuân mới. Vì thế, Sắc phong thành hoàng của triều Nguyễn không thờ ở đây mà đem ra thờ tại miếu Vĩnh An thuộc xóm Hưng Trung. Từ đó, nhân dân trong vùng có câu:

“Ai cho miễu lớn hơn đình,
Bậu có chồng mặc bậu vẫn gọi mình bằng anh”.
Trong 9 năm chống Pháp, đình đã bị đốt cháy. Sau đó nhân dân lập miếu nhỏ dưới gốc cây me để bí mật thờ Ba Ngài Tây Sơn. Cây me đã đi vào câu ca:
“Cây me, giếng nước sân đình
Ơn sâu, nghĩa nặng dân mình còn ghi”.

Mặc dù trong hoàn cảnh đất nước chia cắt, sống dưới chế độ Mỹ ngụy, nhân dân làng Kiêm Mỹ vẫn góp công sức xây dựng lại đình Kiên Mỹ ngay trên nền cũ, chính thức lấy tên là Tây Sơn Điện vào năm 1958. Từ đó, việc thờ cúng ba anh em Tây Sơn và lễ hội kỷ niệm chiến thắng Đống Đa hàng năm đã trở thành ngày hội công khai.

Sau khi đất nước thống nhất năm 1975, Đảng và Nhà nước cho phép tỉnh Nghĩa Bình (nay là Bình Định) xây dựng Bảo tàng Quang Trung bên cạnh khu di tích Tây Sơn Điện – giếng nước-cây me cổ thụ. Đến năm 2004, Điện Tây Sơn đón 9 pho tượng thờ  bằng gốm dát vàng , gồm: tượng ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ và 6 văn thần, võ thướng nhà Tây Sơn, là: Thượng thư Bộ binh Ngô Thì Nhậm, Trung thư lệnh Trần Văn Kỷ, Đại tư mã Ngô Văn Sở, Thiếu phó Trần Quang Diệu, Đô đốc Bùi Thị Xuân, Đại tư đồ Võ Văn Dũng.

e. Di tích Từ đường họ Võ – nơi thờ Võ Văn Dũng (ở thôn Phú Mỹ, xã Tây Phú, huyện Tây Sơn)

Sau khi Võ Văn Dũng bị Nguyễn Ánh giết cùng Trần Quang Diệu khi hai ông đang chiến đấu ở Nghệ An, con cháu ông tại quê nhà đã lập bàn thờ và bài vị để thờ cúng ông tại từ đường của dòng họ Võ. Do thời gian và chiến tranh, ngôi từ đường không còn. Năm 1945, ông Võ Văn Thiểu, cháu đời thứ 9 của Võ Văn Dũng xây cất lại ngôi nhà 7 gian trên đất nền từ đường họ Võ cũ. Đến năm 1972, ông Võ Văn Diệu đã xây dựng lại thành ngôi nhà 5 gian, tường gạch, lợp ngói. Hàng năm, cứ đến ngày mùng 8 tháng 2 âm lịch, con cháu dòng họ Võ cùng chính quyền và nhân dân địa phương lại tề tựu về ngôi từ đường này để thắp hương tưởng niệm Đại đô đốc Võ Văn Dũng – một võ tướng, một nhà ngoại giao tài ba, kiệt xuất thời Tây Sơn. Ngôi từ đường đã được Bộ Văn hóa xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa (năm 1988).

g. Di tích Từ đường họ Bùi – thờ Đô đốc Bùi Thị Xuân

Sau khi Đô đốc Bùi Thị Xuân bị Nguyễn Ánh giết, con cháu của Bà đã bí mật lập bàn thờ bà tại chính ngôi nhà bà đã sinh ra, vốn là nhà của ông nội bà truyền lại cho bố bà là cụ Bùi Đắc Kế. Hằng năm, con cháu tộc họ Bùi vẫn tổ chức ngày giỗ Nữ Đô đốc (ngày mồng 6 tháng 11 âm lịch). Để tránh sự phát hiện và trả thù của nhà Nguyễn, dòng họ chỉ tổ chức tưởng niệm bí mật theo lối mặc niệm. Ngôi từ đường đã được Bộ Văn hóa xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa (năm 1988). Ngoài ngôi từ đường họ Bùi, tại quê hương Bùi Thị Xuân còn lưu giữ một số di tích và lưu truyền nhiều câu chuyện dân gian về gia đình và cuộc đời của bà, như: Vườn Dinh, Trường Võ, Gò Đình, …

h. Đền thờ Đô đốc Bùi Thị Xuân

Để tôn vinh công đức của Đô đốc Bùi Thị Xuân, năm 2005, tỉnh Bình Định đã xây dựng đền thờ bà ở một vị trí thích hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động văn hóa phục vụ nhân dân đến thắp hương tưởng niệm bà ngày một tốt và thuận tiện hơn. Công trình được khởi công ngày 20/9/2007 đến ngày 10/7/2008 khánh thành.

i. Đàn tế Trời – Đất Ấn Sơn

Khu tâm linh Đàn tế Trời – Đất tọa lạc trên ngọn núi Ấn Sơn, thuộc địa phận thôn Hòa Sơn, xã Bình Tường, huyện Tây Sơn. Đây là nơi ba anh em nhà Tây Sơn lập nên và làm lễ xin Trời – Đất trao cho ấn, kiếm lệnh để dấy binh khởi nghĩa, tiến quân ra Bắc. Tương truyền, vì cảm tấm lòng vì hai chữ Đại nghĩa, Trời – Đất đã linh thiêng trao cho 3 anh em kiếm lệnh và ấn lệnh. ấn có hình vuông, mặt ấn có khắc 4 chữ “Sơn hà xã tắc”. Nhờ có ấn, kiếm lệnh Trời – Đất ban cho, 3 anh em đã quy tụ được các nghĩa quân Tây Sơn, hoàn thành thắng lợi sự nghiệp diệt trừ bọn thống trị tàn ác, đánh đuổi giặc ngoại xâm,  thống nhất đất nước. Sự nghiệp thành công, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế lấy hiệu là Quang Trung. Nhưng vì phải lo toan nhiều việc lớn chống thù trong, giặc ngoài, lại không may mất sớm nên ông chưa về lại nơi đây để làm lễ tạ ơn Trời – Đất. Để tỏ lòng tôn kính và ghi nhớ công lao to lớn của nghĩa quân Tây Sơn, cũng là để khôi phục lại một di tích có ý nghĩa đặc biệt với Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ và các nghĩa quân Tây Sơn hơn hai trăm năm trước, UBND tỉnh Bình Định đã triển khai dự án xây dựng Đàn tế Trời – Đất và một số công trình du lịch ngay trên ngọn núi Ấn Sơn, nơi 3 anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ cùng nghĩa quân Tây Sơn làm lễ cáo yết Trời – Đất năm xưa. Khu tâm linh Đàn tế Trời – Đất Ấn Sơn tọa lạc trên khu đất có diện tích 46ha (con số này, cùng các thông số kỹ thuật của đàn tế đều là những con số tâm linh), là một quần thể kiến trúc đồ sộ, được bố trí theo trục / hướng Thần đạo Nam – Bắc, từ dưới chân núi lên đỉnh núi Ấn Sơn, nơi đặt đàn tế. Điểm đầu của đường Thần đạo (cũng là điểm bắt đầu đi lên đàn tế hành lễ), là các công trình phù trợ, gồm: nghi môn, sân luyện võ, khu nhà Ban quản lý di tích, chòi nghỉ, hồ bán nguyệt, miếu thờ Thổ công.

2.1.3. Di tích Phủ thành Qui Nhơn

Phủ thành Qui Nhơn (nay thuộc thôn Châu Thành, xã Nhơn Thành, thị xã An Nhơn, Bình Định), là căn cứ hành chính, quân sự của chính quyền Chúa Nguyễn. Năm 1773, nghĩa quân Tây Sơn từ Tây Sơn Thượng đạo đã tiến xuống đánh chiếm thành, giành chính quyền từ tay Chúa Nguyễn. Chiến thắng Phủ thành Qui Nhơn tạo cho nghĩa quân niềm tin về lần đầu tiên nghĩa quân dám đương đầu, dám đánh và đã đánh thắng chính quyền phong kiến chúa Nguyễn, tạo bàn đạp, tạo đà cho những trận đánh sau đó của Tây Sơn. Từ đó, phủ thành Qui Nhơn trở thành căn cứ quân sự của nhà Tây Sơn, có một ý nghĩa hết sức to lớn trong tiến trình đấu tranh của phong trào Tây Sơn. Ngày nay, dấu vết về Phủ thành Qui Nhơn còn lại không nhiều.

2.1.4. Di tích Thành Chánh Mẫn (nằm ở Đông Bắc Phủ thành Qui Nhơn, thuộc địa phận thôn Chánh Mẫn, xã Cát Nhơn, huyện Phù Cát, Bình Định) vốn là cứ điểm quân sự trọng yếu, xuyên suốt quá trình phát triển của phong trào Tây Sơn. Thành này được Tây Sơn xây dựng trên cơ sở lợi dụng địa hình, địa vật từ các phế tích của người Chiêm Thành và Chúa Nguyễn. Đây là một trong số ít những di tích thành lũy quân sự của phong trào Tây Sơn còn lại trên đất Bình Định. (Di tích đã được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích quốc gia, năm 1995).

2.1.5. Di tích Tân phủ Càn Dương (ở thôn Trường Thạnh, xã Cát Tiến, huyện Phù Cát, Bình Định), tọa lạc ngay dưới chân núi Càn Dương là ngôi chùa cổ kính Bảo Lâm, nhân dân quen gọi là Phủ Ao. Di tích Tân Phủ Càn Dương – một phủ lỵ, căn cứ thủy bộ trọng yếu trong hệ thống phòng thủ mạn Tây Bắc của thành Hoàng đế cũng như ven biển của Tây Sơn. (Di tích đã được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích quốc gia, năm 1998).

2.1.6. Di tích Thành Hoàng đế

Thành Hoàng đế được Nguyễn Nhạc cho xây dựng năm 1776 dựa trên cơ sở phế tích thành Đồ Bàn do vua Chiêm Thành là Ngô Nhật Hoan xây dựng thế kỷ X. Đây vừa là căn cứ quân sự quan trọng, vừa là kinh đô (từ năm 1786 đến 1793) của chính quyền Trung ương Hoàng đế Thái Đức – Nguyễn Nhạc, gắn liền với quá trình phát triển của phong trào Tây Sơn từ giai đoạn đầu đến những trận giao chiến ác liệt cuối cùng của chính quyền Quang Toản với quân của Nguyễn Ánh. Di tích Thành Hoàng đế nằm trên địa bàn các thôn Nam Tân, Bắc Thuận xã Nhơn Hậu và thôn Bá Canh – Đập Đá, cách phường Bình Định 2 km về phía Bắc.

2.1.7. Di tích Bãi Nhạn – núi Tam Tòa

Bãi Nhạn – núi Tam Tòa nằm đối diện nhau qua  cửa Thị Nại, như hai cánh cửa đóng, mở từ biển Đông vào đầm Thị Nại. Nơi đây có vị trí chiến lược rất quan trọng trong việc phòng thủ quân cảng Thị Nại và bảo vệ mặt Đông – Nam của thành Hoàng đế. Tàu bè muốn ra vào đầm Thị Nại không có con đường nào khác  là phải vượt qua hai cánh cổng này. Vì thế chúng được coi như “yết hầu” của căn cứ thủy binh của quân đội Tây Sơn. Quân đội Tây Sơn đã chọn Bãi Nhạn – núi Tam Tòa làm hai cứ điểm đặt đại bác để khống chế mặt biển, chẹn đường thủy, làm cho thủy  binh, bộ binh quân Nguyễn không thể ứng cứu nhau được khi muốn tiến đánh thành Hoàng đế. Do binh lửa và thời gian, hiện nay, cụm di tích này chỉ còn phế tích ngôi đền Tam Tòa (thờ Uy Minh Vương Lý Nhật Quang) dưới chân núi Tam Tòa của bán đảo Phương Mai, với cổng Tam quan là di tích duy nhất của đền còn sót lại trên bán đảo Phương Mai, trên cửa giữa của Tam quan có 3 chữ “Ngưỡng hồng ân” (dịch: Ngưỡng mộ ân đức của bề trên) (Di tích đã được Bộ VH xếp hạng di tích quốc gia, năm 1998).

2.1.8. Di tích Mộ Lê Công Miễn

Mộ Lê Công Miễn – danh nhân văn hóa tiêu biểu thời Tây Sơn tọa lạc ở thôn Luật Chánh, xã Phước Hiệp, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Lê Công Miễn giữ chức Hàn lâm thị độc triều Tây Sơn, đồng thời làm nhiệm vụ “Mật trực thụ thư” – giảng sách cho vua là Trung ương Hoàng đế Thái Đức – Nguyễn Nhạc. Sau khi vua Thái Đức mất, năm 1795, vua Cảnh Thịnh mời ông đến Kinh đô Phú Xuân giữ chức Đô sát viện đô ngự sử và giảng dạy ở Kinh Diên, ít lâu sau ông được thăng lên làm Thượng thư Bộ binh.

2.2. Di sản văn hóa vật thể Thời đại Tây Sơn ở các địa phương khác

Phạm vi lan tỏa của phong trào khởi nghĩa Tây Sơn dưới sự lãnh đạo của ba anh em nhà Tây Sơn, đặc biệt là của Nguyễn Huệ rất rộng lớn, trải dài suốt từ Lạng Sơn địa đầu phía Bắc tới vùng sông Tiền trên đất Nam Bộ. Vì thế, di sản văn hóa vật thể Thời đại Tây Sơn nói chung, di sản văn hóa vật thể liên quan đến Hoàng đế Quang Trung nói riêng không chỉ có ở Tây Sơn – Bình Định – quê hương của phong trào này, mà có ở hầu hết những nơi phong trào khởi nghĩa nổ ra, tràn tới và ở những nơi Quang Trung đã đặt chân đến và lập những võ công. Song, cũng như số phận những di sản văn hóa vật thể Thời đại Quang Trung ở trên quê hương của phong trào Tây Sơn, những di sản văn hóa vật thể Thời đại Tây Sơn ở những địa phương này cũng bị Gia Long, Minh Mạng và triều Nguyễn hủy hoại, mất mát nhiều, hiện nay số di tích được các địa phương phục dựng lại không nhiều.

2.2.1. Trên đất Huế

– Di tích Núi Bân (xã Thủy An, TP Huế): Cuối năm 1788, Nguyễn Huệ đang ở Phú Xuân. Sẵn nuôi mộng xâm lược nước ta, thừa dịp Lê Chiêu Thống sang cầu viện, nhà Thanh đã xua 29 vạn quân sang xâm lược nước ta. Nguyễn Huệ đã quyết định lên ngôi Hoàng đế để thống lĩnh đại quân tiến ra Bắc tiêu diệt quân Thanh. Núi Bân ở gần Kinh thành Phú Xuân được Nguyễn Huệ chọn để lập đàn Nam Giao. Ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân (tức ngày 22/12/1788), Nguyễn Huệ cùng quan quân lên Đàn làm lễ tế cáo Trời – Đất, tuyên bố lên ngôi Hoàng đế, chính thức đặt hiệu Quang Trung năm thứ nhất, duyệt binh, sau đó xuất quân ra Bắc đánh quân Thanh xâm lược. Khu di tích lịch sử quan trọng này đã được Bộ VHTT quyết định là Di tích cấp quốc gia (năm 1988). Tiếp đó, UBND tỉnh Thừa Thiên – Huế đã xây dựng tượng đài Quang Trung – Nguyễn Huệ  cao 21m (phần tượng toàn thân cao 12m) bên cạnh di tích lịch sử Núi Bân. Tượng đài Quang Trung và di tích Núi Bân là một công trình kiến trúc nghệ thuật – tâm linh đặc biệt của Huế ngày nay.

– Tại tỉnh Thừa Thiên Huế hiện còn rất nhiều địa danh liên quan đến triều đại Tây Sơn, như: Làng La Chử thuộc huyện Hương Trà, còn một quả đại hồng chung do vợ chồng tướng Võ Văn Dũng đúc cúng. Hiện trong làng có lăng mộ ông bà Võ Văn Dũng; Xóm Cồn Dương làng Lai Trung (huyện Quảng Điền) có tấm bia đá “Hổ hướng Tây Sơn khởi”; Làng Phò/Phù Ninh, xã Phong An, huyện Phong Điền đã tìm thấy hai tấm bia mộ bà Hoàng Thị Nghĩa, vợ Thái Úy Phạm Đăng Hưng và mẹ của Đại đô đốc Trị An hầu nhà Tây Sơn là Phạm Công Trị – người đóng giả vua Quang Trung sang chầu vua Càn Long nhà Thanh; Phường Tây Lộc, thành nội Huế, góc Tây Bắc, là nơi có Khám đường là nơi Gia Long “giam cầm” thủ cấp vua Quang Trung và vua Cảnh Thịnh trước năm 1885; làng Vân Trình thuộc xã Phong Điền, huyện Phong Điền, quê hương của Trung thư lệnh Trần Văn Kỷ, nay còn mộ. …

2.2.2. Trên đất Quảng Trị

Di tích Nghĩa Trũng Đàn (còn gọi Đàn Âm hồn) ở làng Thạch Hãn xưa (nay là khu phố 8, phường 3 thị xã QUảng Trị), là nơi yên nghỉ của những nghĩa quân Tây Sơn đã ngã xuống trong cuộc hành quân theo Quang Trung ra Bắc đánh quân Thanh.

2.2.3. Trên đất Thanh Hóa

– Đền thờ Quang Trung thuộc làng Du Xuyên (xã Hải Thanh, huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa), tọa lạc dưới chân núi Liên Phong (còn có tên là núi Non Tiên), bên cửa biển Lạch Bạng (còn gọi Tấn Bạng) trên đất Thanh Hóa. Thủa đó, Lạch Bạng là cửa biển lớn. Khi quân Thanh ồ ạt tấn công Thăng Long, quân Tây Sơn chủ động rút lui chiến lược khỏi Thăng Long, về Thanh Hóa. Cửa Lạch Bạng là nơi đồn trú của thủy binh Tây Sơn. Trong thời gian dừng chân tại Thanh Hóa, Quang Trung đã ban lệnh “Bãi bỏ lệ cung tiến yến sào” lấy ở đảo Hòn Mê cho dân làng Du Xuyên. Từ đó, dân làng thoát khỏi nạn cống nạp nặng nề kéo dài bao đời vua chúa . Mang ân tình với Quang Trung, sau ngày nhà vua mất, dân làng đã dựng đền thờ ông. Để tránh sự nhòm ngó của chính quyền nhà Nguyễn, nhân dân ở đây phải dùng nhiều hình thức bí mật để che mắt chúng. Việc cúng tế ở đền thờ Quang Trung cũng rất đặc biệt, không giống các đền thờ khác. Trước khi cúng tế, mọi người phải mật báo cho nhau và tổ chức vào lúc nửa đêm về sáng. Khi tế lễ thì phải khấn thầm. Bài vị của Quang Trung cũng phải cất giấu hết sức bí mật chỉ ít người biết. Ngày nay, lễ hội Quang Trung được tổ chức tại đền vào ngày mồng 5 tháng Giêng.

– Ngoài ra, trên đất Thanh Hóa còn có một số di tích liên quan đến Tây Sơn khác, tiêu biểu như Từ đường họ Trần ở thôn Phú Đa, xã Quang Tiến, huyện Quảng Xương, thờ ông Trần Trọng Giảng là Tri huyện Quảng Xương dưới thời Tây Sơn.

2.2.3. Trên đất Ninh Bình

– Di tích Phòng tuyến Tam Điệp: Cuối năm 1788, trước lực lượng áp đảo của quân Thanh, theo kế sách của Ngô Thì Nhậm, quân Tây Sơn tạm rút về lập phòng tuyến ở dãy núi Tam Điệp (Ninh Bình) để chờ đại quân từ Phú Xuân ra. và thời điểm phản công giặc ở Thăng Long. Tại đây, Quang Trung đã cho quân tập kết quân để từ đó tiến đánh vào Ngọc Hồi – Đống Đa, giải phóng Thăng Long. Tại lũy Tam Điệp, hiện vẫn còn các di tích: Bãi luyện quân, Gò Tập, Gò Cắm cờ, Lũy Quang Trung, Núi Hộ thành Quang Trung, Núi Bàn cờ Quang Trung, Đồn Dâu (còn gọi đồn Tam Điệp), Thành Tam Điệp, Bảo Lý Nhân, Đồn lính trú cổ triều. Vùng thị xã Tam Điệp hiện nay còn có những địa danh liên quan đến Quang Trung và quân Tây Sơn, như: Núi Vương Ngự (nơi Quang Trung đứng duyệt quân), Núi Ngô Công – nơi Ngô Văn Sở đóng, Núi Mưu Công – nơi Quang Trung họp với bộ tham mưu, Núi Vàng Mẹ, Vàng Con – nơi Quang Trung đốt hương, vàng tế Trời Đất; Núi Chong Đèn – nơi quân lính đốt đèn canh gác; Núi Dóng Than – nơi đốt khói làm hiệu; Núi Voi Phục – nơi một con voi Tây Sơn nằm lại trên đường tiến quân,…Di tích Phòng tuyến Tam Điệp đã được Bộ VHTT xếp hạng là di tích cấp quốc gia (năm 1985).

– Ngoài Phòng tuyến Tam Điệp, trên đất Ninh Bình còn có một số di tích liên quan đến Thời đại Tây Sơn, như đền thờ Đinh Huy Đạo – một danh nhân thời Tây Sơn (ở thôn Ngọc Động, xã Gia Phong, huyện Gia Viễn).

2.2.4. Trên đất Thăng Long – Hà Nội

Trong số 173 đình, đền ở Hà Nội đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa, chỉ có một số di tích có liên quan đến Tây Sơn còn tồn tại, là:

– Đền Quán Thánh, còn giữ được chiếc khánh bằng đồng, niên đại năm Cảnh Thịnh 2, thời Tây Sơn. Chiếc khánh do Đô đốc Lê Văn Ngữ cùng nhiều người nữa đã quyên tiền đúc.
– Đình Mễ Trì Thượng (xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm), thờ Cao Sơn và Quý Minh là hai vị thần, con của Lạc Long Quân và Âu Cơ; về sau thờ thêm Lý Bí. Đình là nơi giấu quân của Đô đốc Đặng Tiến Đông thời Tây Sơn trước khi tấn công quân Thanh, giải phóng thành Thăng Long năm 1789.
– Đình Mễ Trì Hạ, huyện Từ Liêm, thờ thành hoàng làng là Cao Sơn  và Quý Minh. Đô đốc Đặng Tiến Đông đã bí mật hội quân ở Mễ Trì rồi bất ngờ đánh vào đồn Khương Thượng khiến cho Sầm Nghi Đống phải thắt cổ tự vẫn.
– Đình Đại Áng, xã Đại Áng, huyện Thanh Trì, thờ Cao Sơn, Quý Minh. Đô đốc Bảo nhà Tây Sơn đã cho quân đồn trú tại đây trước khi tiến đánh quân Thanh giải phóng Thăng Long.
– Chùa Kim Sơn (quận Ba Đình): có phối thờ các nghĩa sĩ trận vong Tây Sơn trong cuộc tấn công Thăng Long tiêu diệt quân Thanh mùa xuân năm 1789. Văn bia chùa Kim Sơn (do GS Vũ Khiêu phụng soạn), có câu:

“Mây cố hương dù rợp bóng anh hùng
Trăng viễn xứ vẫn soi hồn Liệt sĩ
Tình cố quân dẫu theo về Bình Định
Mảnh hình hài đành gửi lại Thăng Long”

– Đền Gềnh ở bên bờ sông Hồng thuộc địa phận Gia Lâm (cũng có tên đền Tiên Thiên cổ điện): là nơi thờ Bắc cung Hoàng hậu của vua Quang Trung là công chúa Ngọc Hân. Song, trải qua 170 năm dưới triều Nguyễn, việc thờ cúng Bà phải lén lút, không được công khai, thường chỉ gọi chung chung là đền thờ Chư vị, thờ Mẫu. Từ năm 1945 đến nay, Hoàng hậu Ngọc Hân mới được trả lại tên nơi chính điện – gian giữa đền Gềnh là Mẫu Ngọc Hân Hoàng hậu. Cũng từ đó, việc thờ cúng ba mẹ con Ngọc Hân ở chính quê hương Phù Ninh – làng Nành cùng với bà Chiêu Nghi Nguyễn Thị Huyền cũng được công khai.

– Năm 1989, nhân dịp kỷ niệm 200 năm Quang Trung đại thắng quân Thanh ở  Ngọc Hồi – Đống Đa, TP Hà Nội cho dựng tượng đài Quang Trung – Nguyễn Huệ và phù điêu ở Công viên Gò Đống Đa (tác giả Vương Học Báo). Đây là tượng đài có kích thước lớn nhất ở Hà Nội, riêng tượng Quang Trung cao 14,6m, thể hiện Quang Trung đang ung dung chống tay vào đốc kiếm, hướng ánh mắt xa xăm. Phía sau tượng đài Quang Trung là phù điêu lớn dài khoảng 30m, chia làm 2 mảng, một bên mô tả cuộc tấn công theo thế rồng cuộn, làm quân giặc thua chạy tán loạn; một bên là cảnh vua Quang Trung và đoàn quân hiên ngang tiến vào Thăng Long cùng không khí đón Tết tưng bừng của người Thăng Long.

Cùng năm đó, tại Vườn hoa Ngọc Hồi (huyện Thanh Trì, cửa ngõ phía Nam Hà Nội, cạnh đường Quốc lộ I A, cách Hà Nội hơn 10km): dựng tượng đài Chiến thắng Ngọc Hồi (tác giả Tạ Duy Đoán) được làm theo lối biểu trưng với hình tượng chắc khỏe của ba mũi tên đồng bay thẳng về phía Thăng Long.

2.2.5. Trên đất Tiền Giang

– Di tích Rạch Gầm – Xoài Mút: Rạch Gầm – Xoài Mút là tên gọi hai nhánh sông bắt nguồn từ sông Cửu Long chảy vào huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Nơi đây, mùa xuân năm 1785, dưới sự chỉ huy của Nguyễn Huệ, quân Tây Sơn và nhân dân địa phương đã tổ chức một trận thủy chiến lớn chưa từng có trên sông nước Nam Bộ, tiêu diệt 5 vạn quân Xiêm xâm lược do Nguyễn Ánh (sau là vua Gia Long) cầu viện. Người Xiêm sau trận đại bại tại đây, “ngoài miệng tuy nói khoác nhưng trong lòng sợ Tây Sơn như sợ cọp”. Chúng gọi Nguyễn Huệ là “Tướng nhà Trời”. Tại khu di tích này, đã dựng tượng đài Nguyễn Huệ cao 18m, riêng phần tượng đồng toàn thân Nguyễn Huệ  cao 8m. Khu di tích đã được Bộ VHTT xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1993.

II. Những vấn đề đặt ra và kiến nghị

1. Về công tác tuyên truyền, quảng bá Di sản văn hóa Thời đại Tây Sơn

Di sản văn hóa Thời đại Tây Sơn nói chung, di sản văn hóa Quang Trung – Nguyễn Huệ nói riêng hiện chúng ta nhận diện được chưa phản ánh hết tầm vóc vĩ đại, ý nghĩa hết sức to lớn của thời đại này và của Quang Trung – Nguyễn Huệ trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Vì vậy, bên cạnh việc  đẩy mạnh hơn nữa giới thiệu, quảng bá giá trị những di sản văn hóa đã có để thu hút du lịch, kêu gọi XHH công tác trùng tu, tôn tạo di tích xuống cấp, báo chí cần đi sâu phát hiện những di sản văn hóa mới về Thời đại Tây Sơn, về Quang Trung – Nguyễn Huệ. Theo tôi, hướng phát hiện nên tập trung vào các chùa, đền, miếu, đình, nhất là các chùa, đền miếu, đình có niên đại Tây Sơn. Bởi, các di tích tôn giáo, tín ngưỡng này là nơi dân ta có thể che mắt chính quyền Nhà Nguyễn để cất dấu, lưu giữ nhiều di sản văn hóa, cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể về Thời đại Tây Sơn và Quang Trung – Nguyễn Huệ.

2. Về công tác nghiên cứu về Thời đại Tây Sơn và Quang Trung – Nguyễn Huệ

Hiện nay, Bảo tàng Quang Trung (Tây Sơn – Bình Định) – Bảo tàng Danh nhân, có chức năng chính là sưu tầm hiện vật và trưng bày hiện vật về thời đại Tây Sơn và Hoàng đế Quang Trung. Bảo tàng cũng đã tiến hành công tác nghiên cứu, song do nhiều hạn chế nên kết quả thu được còn hạn hẹp.

Sự nghiệp nhà Tây Sơn và người Anh hùng Quang Trung – Nguyễn Huệ không chỉ có võ công hiển hách đánh thắng 5 vạn quân xâm lược Xiêm ở phía Nam, 29 vạn quân xâm lược nhà Thanh ở phí Bắc, thống nhất giang sơn về mặt lãnh thổ từ Bắc chí Nam, mà còn các mặt chính trị, kinh tế, giáo dục, văn hóa, y tế,…có nhiều đổi mới hiện nay vẫn còn nguyên giá trị có thể học hỏi. Sự nghiệp ấy, những võ công hiển hách ấy, di sản văn hóa ấy rất cần được tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ, quảng bá rộng rãi để phát huy trong công cuộc phát triển đất nước hiện nay và mai sau.

Ngày 03/1/1984, khi đến thăm Bảo tàng Quang Trung, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã có ý kiến: “Các đồng chí phải cố gắng tìm hiểu càng nhiều càng sâu thì càng tốt về cuộc đời và sự nghiệp của vua Quang Trung vĩ đại; ở đây phải xuất phát từ thực tế của lịch sử, không nên tự cho phép mình xa rời đòi hỏi nghiêm khắc này”. Để thực hiện lời căn dặn của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, và đẩy mạnh công tác nghiên cứu, quảng bá về Thời đại Tây Sơn và Quang Trung – Nguyễn Huệ, nên thành lập một Trung tâm nghiên cứu khoa học hoạt động theo hướng XHH để làm nhiệm vụ này.

Hiện nay, Trung tâm NCBT&PHVHDTVN đã có Văn phòng đại diện tại Qui Nhơn. Theo tôi, UBND tỉnh Bình Định nên hỗ trợ mạnh hơn nữa để Trung tâm NCBT&PHVHDTVN có đủ năng lực thực hiện công tác sưu tầm, nghiên cứu, quảng bá giá trị và đề ra các giải pháp bảo tồn di sản VH Thời đại Tây Sơn, đặc biệt là di sản VH Quang Trung –Nguyễn Huệ ở trong và ngoài nước.

3. Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu và công tác quảng bá

3.1. Qua thực tiễn phong trào Tây Sơn khởi nguồn từ Tây Sơn Thượng đạo, với sự tham gia của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, tiếp tục làm sâu sắc thêm Vai trò đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên với Tây Sơn (có ý nghĩa cho hôm nay, khi rõ ràng Tây Nguyên là địa bàn chiến lược trong bảo vệ chủ quyền, nhất là bảo vệ biển Đông,…).

 3.2. Cần tiếp tục làm rõ và khẳng định Quang Trung – Nguyễn Huệ là người có công thống nhất đất nước về mặt lãnh thổ, chấm dứt gần 200 năm cát cứ, chứ không phải vua Gia Long đầu triều Nguyễn. Vua Gia Long chỉ là người có công thống nhất nhà nước về mặt hành chính trên cơ sở thống nhất lãnh thổ Bắc – Trung – Nam của Quang Trung. Sở dĩ vậy, bởi gần đây, có một số ý kiến không đúng, khi cho rằng vua Gia Long là người có công thống nhất đất nước.

3.3. Về thời kỳ Tây Sơn và Quang Trung ở Huế.

Năm 1999, Bảo tàng Văn hóa dân gian Huế đã biên soạn, xuất bản cuốn sách “Tư liệu điền dã vùng Huế về thời kỳ Tây Sơn”, cho thấy ở Huế có một kho tàng di sản văn hóa thời Tây Sơn khá phong phú, đã phát lộ. Vì vậy, cần tiếp tục nghiên cứu để làm sáng tỏ thêm.

3.4. Vai trò Nghệ An – quê cha đất tổ của ba anh em nhà Tây Sơn với sự nghiệp Quang Trung.

3.5. Nghệ thuật quân sự Quang Trung: – Thuyền chiến Tây Sơn và nghệ thuật Thủy chiến của Quang Trung – Nguyễn Huệ; –  Nghệ thuật hành binh; – Sử dụng người tài; – Tầm hoạt động của Quang Trung Nam chính – bắc chiến; –  Cống hiến của Quang Trung về nghệ thuật thủy chiến qua Chiến thắng  Rạch Gầm – Xoài Mút – một sáng tạo mới so với 3 trận Bạch Đằng ở phía Bắc.

3.6. Về việc Quang Trung đòi nhà Thanh trả lại đất đã chiếm của Việt Nam.

3.7. Nguyên nhân Nhà Tây Sơn sụp đổ (Vì những lủng củng tranh chấp nội bộ, tạo điều kiện cho Nguyễn Ánh đẩy mạnh cuộc tiến công và giành thắng lợi? …)

3.8. Những tồn nghi cần làm sáng tỏ:

– Về cái chết và phần mộ của Quang Trung – Nguyễn Huệ (Bởi, hiện có cuốn sách Lịch sử nhìn lại dưới góc độ Y khoa của Bác sĩ Bùi Minh Đức đã đưa ra một cách giải thích khác về nguyên nhân cái chết của Quang Trung,…)
– Về chuyện Bắc cung Hoàng hậu Ngọc Hân lấy vua Gia Long,….

4. Dựng tượng đài Quang Trung trên những vùng/hướng quan trọng về địa chính trị – quân sự của nước ta.

4.1. Tại Bình Định

Dựng tượng đài Quang Trung trấn ải, canh giữ Biển Đông ở Cửa biển Thị Nại. Đây là vị trí quan trọng là yết hầu bảo vệ Trung ương, bảo vệ thành Hoàng đế. Tại khu vực này, đã diễn ra nhiều trận thủy chiến, nơi đồn trú hải quân Tây Sơn. Ngoài dựng tượng trấn yểm – oai vía Quang Trung trấn ải biển Đông, nên khôi phục một số thuyền chiến Tây Sơn, mà theo sử sách, đây là loại chiến thuyền khá hiện đại, chở voi chiến, đại bác đi biển tốt và đã làm nên chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút.

4.2. Tại Hà Nội

Tại Hà Nội, hiện có tượng Quang Trung ở Công viên Gò Đống Đa. Từ nhiều năm trước, đã có nhiều ý kiến về những điểm bất cập của vị trí đặt tượng đài (như: Gò Đống Đa là ngôi mộ tập thể lính Thanh, đặt pho tượng Quang Trung bên cạnh, nhìn thẳng vào Gò này, khác nào Quang Trung đang nắm tay đốc kiếm canh mộ lính Thanh). Khoảng không gian quanh di tích bị lấn chiếm làm nơi để ô tô, buôn bán, đã che khuất toàn bộ khu tượng đài.

Di tích về chiến thắng Ngọc Hồi cũng có nhiều hạn chế về cảnh quan, tầm nhìn chưa xứng tầm chiến thắng năm 1789. Trước đây Đường quốc lộ số 1 chạy qua đây, di tích này còn được biết đến, còn nhìn tháy, nay, hầu hết xe cộ Bắc – Nam đều đi trên đường cao tốc Pháp Vân, nên di tích này vắng vẻ và ít được quan tâm.

Tầm vóc chiến thắng 29 vạn quân Thanh năm 1789 giải phóng Thăng Long rất lớn. Công lao của Quang Trung đối với Thăng Long – Hà Nội rất lớn để làm nên Danh hiệu cao quý “Thành phố vì Hòa Bình”. Vì vậy, Hà Nội nên chọn một vị trí đắc địa hơn để dựng thêm tượng đài Quang Trung và phù điêu về chiến thắng này.

4.3. Tại Lạng Sơn

Trong lịch sử hàng nghìn năm quan hệ Việt – Trung, dải đất biên cương trên bộ phía Bắc, trong đó có hai hướng quan trọng mà tất cả các cuộc tấn công của phong kiến Trung Quốc vào nước ta, và ngay cả cuộc xâm lược Việt Nam của Cộng hòa ND Trung Hoa ngày 17/2/1979, đều chọn để hành binh vào nước ta là sông Hồng mà cửa sông vào nước ta là tại TP Lào Cai (“nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt”) và Lạng Sơn.

Tại thành phố Lào Cai, trên ngọn núi nằm cạnh cửa khẩu Lào Cai, không biết từ bao giờ, nhân dân ta đã xây dựng ngôi đền thờ Trần Hưng Đạo, trên chính điện Đức Thánh Trần ngồi nhìn thẳng sang đất Trung Quốc. Tượng Ngài uy nghi, linh thiêng che chở phù hộ cho nhân dân ta. Ngôi đền thờ Ngài ở đây, như một bằng chứng tôn giáo khẳng định chủ quyền Việt Nam, đồng thời với võ công oanh liệt của Ngài 3 lần đánh thắng quân xâm lược Nguyên – Mông nhắc nhở những thế lực thù địch hãy từ bỏ âm mưu xâm chiếm nước ta, nếu không sẽ bị đánh tơi bời.

Đối với Lạng Sơn, nơi đây từng là chứng nhân của các cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của phong kiến Trung Quốc; cũng là chứng nhân của những đoàn sứ thần mang trách nhiệm ngoại giao hai nước. Năm 1789, cánh quân chủ yếu của 29 vạn tên của triều đình nhà Thanh xua sang xâm lược nước ta cũng đặt vết chân nhơ bẩn qua đây. Sau khi quân Tây Sơn công phá chiếm được thành Thăng Long, Tôn Sỹ Nghị đã bỏ mặc quân lính, trốn về nước, sử chép: “Nguyễn Huệ sai quân đuổi theo đến cửa ải Lạng Sơn, nói phao lên rằng quân qua  cửa ải đánh giết không sót người nào, cốt tìm cho được chỗ Chiêu Thống đến ở. Người nước Thanh cả sợ, từ cửa quan trở về mạn Bắc, người già trẻ con bồng bế nhau chạy, vài trăm dặm tuyệt không có người ở” ( sách Đại Nam liệt truyện – Chính biên sơ tập, bản dịch: Viện Sử học, Thuận Hóa, Huế, 1993, t2, tr 518-519). Song, cho đến nay, trên mảnh đất địa đầu này, di sản văn hóa vật thể về Tây Sơn và Quang Trung chưa được sưu tầm, khai thác. Và, cũng chưa phát hiện được một di tích thờ tự Quang Trung nào. Vì vậy, việc xây dựng đền thờ và đặt tượng Quang Trung – Nguyễn Huệ trên mảnh đất địa đầu Lạng Sơn là vô cùng cần thiết. Bởi, đó không chỉ là tiếp nối truyền thống tâm linh của cha ông xưa, mà vô cùng có ý nghĩa trong bối cảnh Trung Quốc đã công khai ý đồ xâm chiếm nước ta, độc chiếm Biển Đông, như sự kiện giàn khoan HD 981 vừa qua.

Phụ lục:

Một số đánh giá về Tây Sơn và Quang Trung – Nguyễn Huệ

– “Đất Tây Sơn tự hào và cả dân tộc Việt Nam ta rất tự hào đã sinh ra người Anh hùng dân tộc Quang Trung – Nguyễn Huệ. Tư tưởng vĩ đại, tài thao lược chống xâm lược bảo vệ Tổ quốc, thống nhất sơn hà của người Anh hùng áo vải Quang Trung mãi mãi lưu truyền và đi vào lịch sử bất diệt của dân tộc Việt Nam ta.” (Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công).
– “Tây Sơn, mảnh đất lịch sử giàu truyền thống yêu nước, quê hương của vị Anh hùng áo vải Quang Trung với cuộc hành quân thần tốc và những chiến công Ngọc Hồi, Đống Đa… đại phá quân Thanh đã ghi vào lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc những trang vàng chói lọi” (Chủ tịch Nước Lê Đức Anh).
– “Tôi đến đây nhiều lần, nhưng mỗi lần đều xúc động, tưởng nhớ, biết ơn Hoàng đế Quang Trung – Nguyễn Huệ, người Anh hùng dân tộc áo vải cờ đào, người lãnh đạo nhân dân đánh tan hai đội quân xâm lược hùng mạnh ở phương Bắc và phương Nam, gìn giữ và mở mang bờ cõi Việt Nam. Dân tộc Việt Nam đời đời ghi nhớ công ơn Người” (Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết).
– “Tây Sơn, mảnh đất thiêng liêng, nơi khởi nghiệp vĩ đại của Triều đại Tây Sơn với những võ công hiển hách thu giang sơn về một mối, đánh đuổi các thế lực ngoại xâm hung hãn để giữ yên bờ cõi, phát triển đất nước cường thịnh. Các thế hệ người Việt Nam mãi mãi tôn thờ công đức của Hoàng đế Quang Trung cứu dân, cứu nước, nguyện làm hết sức mình để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trường tồn và phồn vinh vạn thuở” (Trưởng ban Tuyên giáo TƯ Đinh Thế Huynh)
– “Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Tây Sơn nói riêng và tỉnh Bình Định nói chung, phát huy truyền thống của quê hương Quang Trung – Nguyễn Huệ , xây dựng tỉnh nhà ngày một giàu đẹp; luôn giữ gìn , bảo vệ, tôn tạo khu lưu niệm lịch sử này, góp phần tuyên truyền, giáo dục truyền thống lịch sử cho các thế hệ hôm nay và mai sau” (TBT Nguyễn Phú Trọng)./.

Gửi phản hồi

Tin tức khác