Đọc “Mười bài thơ của Nông Thị Hưng”

Tác giả: Nguyễn Thị Minh Bắc

Mười bài thơ- tên cuốn sách rất đơn giản của Nông Thị Hưng khiến cho ai đã đọc, dù chỉ một lần cũng đều rất ấn tượng. Đây là mười bài thơ được viết theo một lối riêng- thơ không vần, từ ngữ mộc mạc, giản dị nhưng hàm chứa nhiều ý nghĩa sâu xa, thể hiện sự liên tưởng lạ của riêng mình.

Ngay từ bài mở đầu- Nhân bản, tác giả đã bộc lộ cái riêng rất khác đời. Chị so sánh: “Người ta nhân bản ra người. Tôi nhân bản tôi ra thành nhiều mảnh”. Chị vật chất hóa nỗi buồn, để “xâu thành chuỗi”, rồi tự mình trải nghiệm chúng qua “nước mắt, nụ cười, giấc mơ ám ảnh”. Nỗi ám ảnh kinh hoàng nhất là Chiến tranh. Và trong giây phút khốc liệt ấy, bỗng “chợt rùng mình” thì cũng chính là lúc trái tim chị “cất thành lời nhân bản.”

Nhà thơ Nông Thị Hưng

Nhà thơ Nông Thị Hưng

Nói đến giấc mơ, chị thản nhiên bộc lộ: Trong mơ tôi thường mơ đến cái chết. Đầu tôi lỗ chỗ vết thủng Ô-ziôn” (Lời cây). Khi kể lại hành động trong mơ, chị viết: “Lần thứ nhất tôi làm đơn gửi lên trái đất… Lần thứ hai tôi làm đơn gửi xuống mạt trời”. Hai động từ gửi lên, gửi xuống được dùng rất nghich cảm để nêu một ước muốn rất giản dị của cuộc sống con người: được sống bình an “như bao đời vẫn sống” và lá được “xanh như bao đời vẫn xanh”. Cái khéo là ở chỗ, Nông Thị Hưng mơ đến cái chết mà khi cụ thể hóa cái chết lại hiện về cháy bỏng khát khao sự sống và thật lạc quan khi chị bộc lộ tình cảm qua cách đếm “lần thứ ba, Tôi hát”.
Hình ảnh trong thơ của Nông Thị Hưng mang nét giản dị chân thật như cuộc sống vốn thế của chị. Đó là những hình ảnh Lá cờ và người cha. Là kỉ vật chiếc bình tông đựng nước, là con dao quăng cùn cũ kĩ, cây mẫu đơn dại bên sườn núi vắng, là con đường sáng đi nương, chiều xuống chợ; nổi bật trong cảnh vật đó là hình ảnh mẹ địu con vấp ngã bên đường; thấp thoáng những vạt áo chàm, ẩn hiện bản mường đi qua mưa nắng; là những lầm lũi của người đàn bà xóm núi…tất cả những hình ảnh ấy đều được Nông Thị Hưng diễn tả bằng những câu thơ không vần. Có nhũng chỗ khúc kha khúc khắc nhưng lại rất thơ, rất miền núi.
Những từ ngữ tương phản trong một số bài thơ được chị dùng rất khéo: gủi lên trái đất, gửi xuống mặt trời; chiến tranh và hòa bình; nước mắt và nụ cười; sáng sáng đi nương/ chiều chiều xuống chợ; đi qua nắng/ đi qua mưa; hoặc hôm nay…giữa thanh thiên bạch nhật/ Thời đen tối… nhưng là trong bí mật…. Có thể nói, qua cách dùng những từ ngữ tương phản đó mà Nông Thị Hưng đã làm nổi bật được hình ảnh thơ mang nét rất riêng biệt. Ví như khi bộc lộ cảm xúc về hình ảnh lá cờ, trong câu kết của bài thơ, chị đã khắc sâu lời dặn dò của cha: Nếu ai trao cho con một lá cờ. Con hãy làm theo cách của con”! Lời dặn mộc mạc, đơn giản chỉ là lời kể, đã tạc vào thời gian sớm sớm, chiều chiều, hàm chứa nhiều ý nghĩa sâu xa và đầy sức gợi.
Không gian trong thơ Nông Thị Hưng được giăng phủ rộng khắp từ bầu trời xuống trái đất. Nhưng dấu ấn tập trung nhất vẫn là những nét vẽ mang đặc trưng không gian miền sơn cước. Đó là miền rừng núi xa lắc nơi Xa Lý, là chênh vênh vách núi La Xa, là những bản mường, là mặt hồ Cấm Sơn rộng lớn, xòe như năm ngón tay, là con đường đo bằng dao quăng đi vòng xóm núi, thấp thoáng hình ảnh ngôi nhà thân yêu và những người dân lầm lũi, những người đàn bà xóm núi. Để rồi từ đó, hướng tới đỉnh Trường Sơn in bước đường thách thức quân thù thủa Đường Chín, Khe Sanh.
Trở về tới thủ đô Hà Nội, chị thu hẹp góc không gian vào hành lang người già đi bộ. Thật khéo khi chị diễn tả: “nhứng người già đi bộ dọc hành lang/ Vít ngọn nắng nâng bước chân chậm rãi”. Nét đẹp mà tác gỉả chắt lọc được là những người già đi qua chiến tranh, họ vẫn sống như trăng rằm cổ tích giữa cuộc đời không ít những bon chen thời mở cửa.
Nói về cái đẹp, Nông Thị Hưng cũng nhắc đến hoa. Nhưng khi tô điểm cho cái đẹp là hoa, chị có cái nhìn rất lạ. Vẫn là hoa mẫu đơn, nhưng khi được trồng trong chậu cảnh, nó rất khác với mẫu đơn mọc dại ven rừng. Nhứng điệp ngữ “không phải mẫu đơn chùa” hay mẫu đơn đặt trong chậu cảnh đứng làm duyên… đã như một lời khẳng định sự khác biệt đó. Mẫu đơn bên sườn núi vắng, cô đơn đến tột cùng, đã đỡ quạnh hiu hơn khi có người mẹ địu con vấp ngã bên hoa. Chị cảm nhận sắc màu của hoa- “đỏ bầm như máu rớm bàn chân mẹ” chính là sự kí thác cái đẹp, cái duyên của trời đất hòa quyện lòng người.
Mười bài thơ của Nông Thị Hưng mang đậm nét tư duy miền núi. Bản thân chị là người dân tộc Tày, nên thơ chị cũng mang lối tư duy, ngôn ngữ địa phương rất tự nhiên của đời sống:“Một con dao quăng…hai con dao quăng…”. Việc lấy khoảng cách dao quăng để đo độ dài. ta thường bắt gặp khá nhiều. Nhưng lấy hình ảnh con dao quăng cùn cũ kĩ để quăng cuộc đời không bén duyên rừng anh, thì chỉ có Nông Thị Hưng.
Thêm vào đó, sự thấp thoáng âm hưởng xa xa của những câu Soong hao, những câu Sli gần nơi vách liếp, và tiếng gà báo hiệu bình minh…tất cả gợi về một hoài niệm phảng phất buồn. Nhưng đến ngày em theo anh về, thì không gian lại tưng bừng vui nhộn khác hẳn. Những tiếng chim chào mào nghiêm trang hót, chim bắt cô trói cột vang cùng những tiếng tắc kè trong đêm đã tạo nên một cảm giác ấm cúng, đầy hi vọng. Khiến “trái tim ủ lửa anh ngun ngút cháy dâng ngày”.

Ở vào cái Tuổi Bốn mươi, giữa bao lo âu, chao đảo đứng giữa ngã ba đời, Nông Thị Hưng đã thật bạo rạn chọn “vịn vào thơ mà đứng”, đem thơ tạc số phận con người- “Anh khao khát trở thành nhà tư sản/ Đừng mơ đòi thế chấp chợ tình em”. Điều đó chứng tỏ chị đã khẳng định bản ngã của mình để trái tim cất thành- lời nhân bản.

Gửi phản hồi

Tin tức khác