Già làng thời hiện đại

Tác giả: Hùng Hậu

53 tuổi đời, 14 năm làm già làng, ông Krajan Plin ở buôn Đang Ja, thị trấn Lạc Dương (huyện Lạc Dương, Lâm Đồng) được người K’ho (Dân tộc K’ho là tên gọi chung của các tộc người gồm Cil, Lạch, Mạ, Srae, hiện cư trú tại địa bàn Tỉnh Lâm Đồng và Tỉnh Đắk Nông) gần xa ngưỡng mộ, tôn kính bởi tài năng, sự am hiểu văn hóa dân tộc và còn là tấm gương cho đồng bào mình học theo cái mới…

Gia lang

Krajan Plin “khoe” những nhạc cụ, nông cụ… ông sưu tập và trưng bày.

Thân hình chắc nịch, mái tóc quăn dài đến chấm lưng, da ngăm đen, tai bấm khuyên, khuôn mặt phúc hậu với nụ cười luôn thường trực trên môi… đấy là chân dung phác họa của “vị già làng đời mới” 53 tuổi – Krajan Plin.

Chân dung già làng thời hiện đại

Theo sự giới thiệu của một đồng nghiệp, chúng tôi đến buôn làng của người Lạch dưới chân núi Lang Bian- núi mẹ trong tâm thức của đồng bào Lạch ở cao nguyên Lâm Viên – cách trung tâm TP Đà Lạt hơn 10km. Khi mặt trời vừa khuất phía sau dải núi của cao nguyên Lâm Viên, chúng tôi tìm đến nhà già làng Krajan Plin. Dưới những làn mưa bụi lất phất, tỏa hơi nước và không khí lành lạnh, một người đàn ông trung niên mặc áo của người dân tộc Tây Nguyên có thân hình vạm vỡ, mái tóc dài, xoăn buộc đuôi ngựa rất lãng tử và ánh mắt, nụ cười tự tin mà phúc hậu ấy đứng đón chúng tôi trước cổng nhà. Ông đến bắt tay chào hỏi từng người với giọng cười giòn giã, dù biết trước ông ngoài 50 tuổi, nhưng cũng còn ngờ ngợ, hỏi:

– Có phải già làng không?

– Mình chính là Krajan Plin- già làng đây!

Nếu không biết trước già làng mới hơn 50 tuổi thì chắc chúng tôi chưa dám hỏi câu này, là bởi vì trong suy nghĩ của tôi, già làng ở Tây Nguyên chắc cũng phải đạo mạo và lụ khụ đến độ khiến lần đầu gặp, ta phải e dè. Ông dẫn chúng tôi vào căn nhà giống kiểu nhà rông Tây Nguyên. Ôi! Hàng trăm hiện vật là nông cụ, nhạc cụ, vật dụng của người Tây Nguyên được ông lưu giữa, càng làm chúng tôi phải trầm trồ. Khi đã mặn chuyện, tôi thú thật suy nghĩ của mình, anh chàng già làng ấy cười ha hả rồi từ tốn giảng giải: “Với người Lạch, già làng tất nhiên là phải có uy tín với đồng bào để điều hành buôn làng theo luật tục, thay mặt buôn làng giao tiếp với bên ngoài, phải am hiểu phong tục tập quán và có uy để hành lễ, giao tiếp với Yàng, với thần linh. Già làng phải giỏi nhưng không nhất thiết phải già…”. Đang trò chuyện rôm rả, thì bếp lửa than cũng rực hồng, cô con gái già làng dọn chén xong lại ngồi vào bếp than nướng thịt nai. Già làng thì đi pha rượu, ông gọi tôi vào khoe “hầm rượu” của ông. Với hơn chục bình rượu thuốc các loại và giới thiệu từng loại rượu của ông ngâm cây rừng, sâm rừng, có cả rắn rừng… “Rượu ông uống bà khen đó nghen!”- Nói xong câu rồi ông cười ha hả… “Khách du lịch đến chỉ bán rượu cần! Rượu này không bán đâu, chỉ để nhậu chơi với bạn bè thôi!”- rồi lại cười… Sau khi rót rượu, ông bảo chúng tôi cụng ly, một… hai… ba vô! Quả thật, rượu ngon lạ. Rượu hơi nồng, hơi cay nhưng không nhẫn lại thoang thoảng hương vị của cỏa cây núi rừng. Rồi hoài quyện với món thịt nai thơm nức trong không gian lạnh lạnh của núi rừng Tây Nguyên. Uống xong một ly, ông điện thoại một người bạn, nhưng nói tiếng Anh. Lát sau một người nước ngoài trạc tuổi già làng đến. Sau khi chào hỏi ông giới thiệu ông là James Reelick- người Mỹ- lấy vợ ở thị trấn Lạc Dương này đã hơn 2 năm nhưng chưa rành tiếng việt, mọi tiếp xúc với người khác đều nhờ Krajan Plin. Rồi hai người trao đổi nói chuyện với nhau bằng tiếng Anh. Già làng nói tiếng Anh rất thạo, càng làm cho chúng tôi ngạc nhiên. Già làng cho biết, ông còn nói được tiếng Pháp và một ít tiếng Tây Ban Nha, vì trước khi làm già làng ông từng đi Mỹ một thời gian, rồi tự tìm tòi học tiếng Pháp, tin học, cố gắng học tiếng nước ngoài vì ở đây thường xuyên có khách nước ngoài đến xem biễu diễn nhạc dân tộc vào ban đêm.

Tốt nghiệp Trung cấp Y tế tỉnh Lâm Đồng, năm 1980, y sĩ Krajan Plin nhận công tác ở Trạm y tế xã vùng sâu Đam Rong – huyện Lạc Dương, cách nhà gần 100km đường rừng. Vận động đồng bào ăn ở vệ sinh, khám bệnh, phát thuốc là công việc quen tay của Plin bởi gia đình vốn có truyền thống theo nghề y, bản thân lại tận tình, chu đáo và khéo tay nữa nên bà con quý anh chàng y sĩ mát tay và hiền hòa ấy lắm. 8 năm làm y sĩ ở Đam Rong, tuy điều kiện công tác và đời sống rất khổ cực nhưng đã mang lại cho Plin nhiều điều, đáng kể nhất là sự khơi mở của con đường sưu tầm, nghiên cứu văn hóa dân tộc… Từ chối cơ hội đi học bác sĩ, năm 1988, Plin xin chuyển sang ngành điện lực chỉ với một suy nghĩ: “Thợ điện quanh năm được đi khắp núi cao vực sâu để dựng cột, kéo dây như thế thì chắc nhiều chuyện hay lắm”. Ở điện lực được 3 năm, năm 1991, Plin chuyển về Đoàn ca múa nhạc dân tộc tỉnh Lâm Đồng. Về đúng nơi được quanh năm suốt tháng đi đàn ca sáo nhị, Plin say sưa cơm đùm cơm nắm theo đoàn gồng gánh đạo cụ đi khắp các buôn làng trong tỉnh biểu diễn phục vụ bà con, thỏa chí. Nhưng một chiều mưa buồn, “đứng trên triền dốc nhìn xuống đồi thông”, Plin chợt ngộ: hóa ra bao lâu nay, để đi hát phục vụ công tác tuyên truyền, mình toàn hát những bài cổ động, nhạc xập xình, lời sáo rỗng, nghe rồi quên; để mưu sinh, để khoe sức, khoe giọng, mình toàn hát nhạc ngoại dưới ánh đèn màu điên đảo quét trong đặc quánh khói thuốc, men rượu, hơi bia ở những chốn xô bồ. Chả có cái gì là Plin, là Lạch!

Quyết giữ gìn văn hóa dân tộc 

Nhớ lại ở buôn làng mình, bà con phần vì mải miết mưu sinh, phần chịu tác động dòng chảy văn hóa ngoại lai nên không còn chí thú đến đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc mình. “Nếu cứ thế này, chẳng mấy chốc, những phong tục tập quán tốt đẹp của người K’Ho sẽ mai một hết”. Tự với nỗi lo lắng ấy, Plin quyết tâm xắn tay vào cuộc.

Năm 1995, cắt bỏ những gì xưa cũ, Krajan Plin thảnh thơi về buôn để thỏa chí được làm cái của riêng mình. Trên những nẻo đường lãng du từ khi còn là y sĩ, đến thợ điện, văn nghệ quần chúng, Plin đã chú tâm tìm hiểu, sưu tầm những bài dân ca K’Ho, rồi mày mò thử sáng tác những bài hát bằng tiếng K’Ho với lời lẽ dễ hiểu, giai điệu mới nhưng mang âm hưởng dân ca để nghêu ngao hát chơi. Thế nên tập nhạc của anh cũng đã có kha khá bài hát ra chất Tây Nguyên. Giờ về buôn, làm sao để hát cho bà con nghe bây giờ? Nghĩ mãi, Plin quyết định phải chơi đến cùng, đã có bài hát thì phải sắm dàn nhạc để biểu diễn. Nhìn khắp nhà chỉ có đàn trâu là đáng giá. Nhưng người ta đang mua thêm không được, mình lại bán trâu đi thì lấy đâu sức kéo, lấy gì phân biệt người sang, kẻ khó? Chưa kể 10 con trâu ấy còn là của hồi môn mà cha mẹ anh cho trước khi về nhà vợ. Nghĩ lung lắm nhưng đã quyết là làm, Plin gọi người đến bán sạch đàn trâu được gần chục triệu đồng để lấy tiền mua trống, sắm đàn, tậu loa… Rồi Plin tụ họp anh em, bè bạn, làm một bữa rượu cần nghiêng ngả để tuyên bố thành lập nhóm Những người bạn Lang Bian. Khoảng sân rộng sau nhà được Plin trưng dụng làm bản doanh của nhóm nhạc. Ngày ngày, từ nương rẫy về, ném cái xà gạc vào góc nhà, hạ cái gùi xuống, 12 chàng trai cô gái đầy nhiệt huyết ấy lại hăng hái tập hát, chơi đàn, đánh chiêng, thổi kơm buốt, hát đối đáp dêh kô, dêh lờng… vang một góc buôn. “Rồi tụ họp anh em đàn hát. Hát hò thuần thục rồi thì kéo nhau đi góp vui trong những dịp buôn làng có đám cưới, đám hỏi, lễ lạt…” – Plin nhớ lại.

Nhóm nhạc Những người bạn Lang Bian nhanh chóng gây được ấn tượng mạnh trong lòng công chúng khi biết kết hợp hài hòa giữa bảo tồn và phát huy vốn cổ. Chương trình cứng của nhóm được định hình: Cồng chiêng đón khách (bài bản xưa), giới thiệu các điệu chiêng khác: Tiếng chiêng Proh gọi bầy, Tiếng chiêng Dênh gọi mưa, Tiếng chiêng mừng ngày hội v.v…, độc tấu kèn bầu (kơm buốt), hát đối đáp dêh kô, dêh lờng, dêh reng… Lúc đầu cũng chỉ với mục tiêu nhằm giữ lại những nét văn hóa truyền thống của dân tộc K’Ho: tái hiện lại các lễ hội cúng Yàng, cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, bảo tồn bài bản 36 nhịp chiêng… Dần dà, khách du lịch yêu cầu, nhóm chuyển sang biểu diễn chuyên nghiệp. Trung tâm du lịch Đà Lạt ngay lập tức đưa chương trình của nhóm vào tour. Vậy là tối tối, tại nhà sàn của Krajan Plin ở chân núi Lang Bian, khách du lịch được đắm chìm vào những phong tục tập quán, những lời ca điệu hát đặc sắc của đồng bào Lạch. Từ nhóm cồng chiêng Những người bạn Lang Bian do già làng Krajan Plin thành lập vào năm 1995, đến nay cả vùng đã có 12 đội, nhóm văn nghệ với khoảng gần 300 thành viên thường xuyên biểu diễn điệu chiêng, nhịp xoang, tiếng kèn tămpơt… để chinh phục thiện cảm của du khách gần xa.

Trong ngôi nhà sàn gỗ- mô hình kiến trúc của người Tây Nguyên có hơn 300 vật dụng, nông cụ, nhạc cụ… của người K’ho, do già làng Krajan Plin sưu tầm để trưng bày và bảo tồn. “Trong số nhiều công cụ này có người sử nó đã chết từ lâu rồi, không còn sống đâu!”- Plin nói tự tin, rồi lại cười. Plin cho biết, nếu tính hết bộ sưu tập của ông có cả ngàn vật dụng thuộc văn hóa của người K’ho. Đặc biệt, ông cho chúng tôi xem tập Luật tục của người K’ho với 1.419 câu, 432 Điều, chia làm 28 chương được Krajan Plin ghi chép lại và sắp xếp theo trình tự, khoa học. Rồi ông lại mở máy tính chuyển mail cho chúng tôi để dành làm tư liệu tham khảo.

Gia lang1

   Già làng “rủ” tác giả và ôm bé trai con của người cùng đoàn chụp ảnh lưu niệm

Khi men đã nồng, rượu đã ấm, tình cũng đã say, Plin say sưa kể chuyện ngày xưa, những huyền thoại, giai thoại của dân tộc mình. Trong đó ông kể nhiều về chuyện đi rừng, đi rẫy gặp cọp, beo… của ông nội mình khi còn trẻ cũng như lúc làm già làng. Rồi già làng Krajan Plin lại… ngưng cười và tâm sự về nỗi lo đánh mất văn hóa dân tộc. Ông tâm sự: Sự tuyên truyền bài trừ xóa bỏ những hũ tục trước đây bị cho là lạc hậu như phát nương làm rẫy trồng lúa, các lễ hội, ăn trâu… sự cấm đoán nói trên vô tình đã làm cho văn hóa bản địa Tây Nguyên đã mai một, đó cũng là một phần nguyên nhân tác động dẫn đến sự suy vong hoàn toàn của nền văn hóa bản địa. Rất mừng là còn xót lại một số ít lễ hội, như lễ hội Pơthi mang tính tâm linh của cộng đồng tộc người, giữa người sống và người chết của một số dân tộc như: Jrai , Bahnar, Êdê, K’ho, Chru… Già làng đích thực không còn trọng dụng đúng nghĩa như ngày xưa, cũng là một phần nguyên nhân kéo theo những di sản văn hóa phi vật thể và vật thể như sử thi, trường ca, luật tục, chiêng chóe… đi vào quên lãng, thay vào đó là sự hình thành của tổ hòa giải, tổ dân phố, mặt trận đoàn thể v.v. áp dụng đường lối mới như luật dân sự hiện hành để giải quyết mọi vấn đề xã hội tộc người thiếu sự tôn trọng và phối hợp với nhau đã dẫn đến mai một. Sự xâm nhập của các tôn giáo khác như Thiên Chúa giáo, Tin Lành v.v. đã tác động không ít đến văn hóa tộc người nơi đây. Về việc dạy ngôn ngữ dân tộc bản địa nói chung, nói riêng dạy tiếng dân tộc K’ho ở tỉnh Lâm Đồng là việc làm rất cần thiết và cấp bách. Những dân tộc còn giữ văn hóa lễ hội Pơ thi đậm đà bản sắc nhất phải nói đến dân tộc Jrai pleiku, ngoài ra còn có các dân tộc khác tuy vẫn còn duy trì nhưng không tránh khỏi sự phai mờ và biến dạng. “Nên trả lại tên buôn làng ngày xưa vốn rất đẹp và có ý nghĩa, nó luôn gắn liền với sông suối núi rừng, cộng đồng tộc người về điều hành ứng xử giữa họ với họ một cách văn hóa và nhân văn như họ đã từng làm và gìn giữ từ hàng ngàn năm trước đây”- Sau nỗi lòng đau đáu ấy, rồi đọc cho chúng tôi nghe bài thơ ông sáng tác. Chia tay già làng Krajan Plin, chia tay núi rừng Tây Nguyên, nhưng vẫn mang theo về âm hưởng đẹp của buôn làng, của núi rừng với tiếng khèn, tiếng chiêng hòa với hương rượu ấm nồng!

Nếu!..

Tây Nguyên không còn nhà Rông

sẽ thay vào đó những nhà…

cấp ba cấp bốn không hồn

Nếu!..

buôn làng không còn tiếng chiêng

sẽ có tiếng đàn, tiếng bass rung lên nhà sàn

Nếu!..

Gìa làng không còn kể “khan”

sẽ có Tivi đua nhau phát sóng

vang trong đêm buồn xám hồn tím vía

Nếu!..

Lễ hội không còn ăn trâu rượu cần

sẽ có nhà hàng đèn xanh đèn đỏ, rượu trắng bier đen

chén anh chén chị thét lên man dại

đếm một-hai-ba- rồi lại đếm ba – hai – một

dzô-dzô-dzô dzô ẩm thực thái quá

phải chăng đấy là… cái gọi văn hóa của ngày hôm nay?

Nếu không còn gì nữa Yàng ơi còn gì …nữa…

vạn vật hữu linh.

Gửi phản hồi

Nguồn bài viết: baovinhlong.com.vn

Tin tức khác