Hộ sanh đàn – kiệt tác sân khấu của Đào Tấn

Tác giả: Nguyễn Thế Khoa

Không phải ngẫu nhiên mà trong bộ sách “100 kiệt tác sân khấu thế giới” của Nhà xuất bản Sân khấu cách đây ít năm, ta thấy có mặt vở tuồng “Hộ sanh đàn” của Đào Tấn. Các nhà tuyển chọn đã không lầm, xét về nhiều phương diện, “Hộ sanh đàn” xứng đáng là một kiệt tác sân khấu không những của Việt Nam mà của cả nhân loại.

Ho sanh

“Hộ sanh đàn” là vở tuồng lớn cuối cùng của Đào Tấn, được sáng tác vào cuối thời ông làm Tổng đốc An Tĩnh lần thứ hai (1998-1902). Đây cũng là vở tuồng được ông chăm sóc nhiều nhất và được biểu diễn thường xuyên nhất khi ông về hưu, lập Học Bộ Đình ở làng Vinh Thạnh quê hương cho đến trước khi mất (1904-1907). Những điều đó cho thấy “Hộ sanh đàn” là một trong những vở tuồng tâm đắc, ưng ý nhất của Đào Tấn.

Cũng như ở “Diễn Võ đình”, chuyện kịch trong “Hộ sanh đàn” chủ yếu là do Đào Tấn hư cấu mượn tên một số nhân vật và bối cảnh thời Tàn Đường, Trung Hoa, thời mà Võ Tắc Thiên chiếm ngôi đế và ra tay truy quét các trung thần nhà Đường, tiêu biểu là dòng họ Tiết Nhơn Quý.

Tiết Cương, nhân vật trung tâm của “Hộ sanh đàn”, là cháu hai đời của Tiết Nhơn Quý, bị cháu của Võ Tắc Thiên là Võ Tam Tư truy sát đến cùng. Tiết Cương đem theo cháu ruột còn ẵm trên tay là Tiết Giao đến lánh nạn ở một vùng sơn cước và kết duyên với Trần Thị Lan Anh và cùng vui sống trong cảnh“Thanh nhàn trăng gió hoá vô biên/một động hoa đào một cõi riêng” (lời của Lan Anh).

Trong một lần về kinh viếng mộ song thân, Tiết Cương bị binh triều phát hiện bao vây. May nhờ đuợc vợ chồng Tần Hán giải cứu, thoát được, tìm về Long Sơn. Võ Tam Tư đem binh đuổi theo. Được tin, bất chấp hiểm nguy, Lan Anh cùng lâu la xuyên rừng đi cứu chồng. Đúng lúc Tiết Cương bị Tam Tư đâm ngã, họ cứu được chàng, phục bắn bị thương Võ Tam Tư, rồi cùng dìu đỡ nhau, phát gai góc, vượt nước chảy đá trơn, mở đường về Long Sơn. Về được Sơn trại thì Tam Tư đã kéo quân đến. Tiết Cương, Lan Anh cùng hiệp sức phá trùng vây nhưng đã lạc nhau.

Giữa rừng thẳm suối sâu, cùng với Hồ Nô, đầy tớ gái người Thượng, một thầy một tớ, Lan Anh trở dạ đẻ con trai dưới một bụi hoa quỳ nên đặt tên con là Tiết Quỳ. Sinh xong, Lan Anh tay bồng Tiết Quỳ, tay ẵm Tiết Giao lại cùng Hồ Nô lặn lội tìm Tiết Cương.

Tiết Cương thì một người một ngựa dạt đến thành Đăng Châu, nơi có người bạn cũ là Tiết Nghĩa đang giữ chức Tống quân. Vốn vợ chồng Tiết Nghĩa trước kia từng bị trọng hình oan uổng, được Tiết Cương liều mình giải cứu, hai người từng kết bạn tâm giao, nên Tiết Cương hy vọng sẽ nhờ bạn lánh vòng hoạn nạn. Chẳng ngờ Tiết Nghĩa đã thành tay sai của Võ Tam Tư, lại là một tên đểu cáng thực dụng khó ai bì, đã tổ chức phục rượu, bắt trói Tiết Cương, nhằm giải trao Võ Tam Tư để tâng công lãnh thưởng. Dương Tú Hà, vợ Tiết Nghĩa, một người trọng tinh, trọng nghĩa, khuyên can chồng không được, bèn viết thư sai Tiết An (cháu Tiết Cương gửi sống cùng vợ chồng Tiết Nghĩa) tìm đến Hùng Sơn trại, nói rõ âm mưu của chồng mình, nhờ các nghĩa sĩ Ngũ Hùng, Tần Hán tìm cách giải cứu cho Tiết Cương. Tiết An đi rồi, Tú Hà hết sức đau khổ, thấy mình “trả ơn xưa mà đến nỗi lụy chồng/mích đạo cả sao rằng tiết gái” nên tìm đến cái chết để tự giải thoát.

Tiết Cương được Ngũ Hùng, Tần Hán cứu. Tiết Nghĩa bị họ giết chết, nướng thịt ăn. Tiết Cương đi tìm Lan Anh và gặp lại vợ cùng Hồ Nô tại một ngôi miếu cổ bỏ hoang giữa rừng sâu, nơi thờ chính Nhị tổ Tiết Nhơn Quý. Nhờ oai linh của tiên tổ, Tiết Cương đã đánh bại được Tam Tư…

Người ta dễ thấy cái tên “Hộ sanh đàn” có liên quan mật thiết với lớp “Lan Anh lạc đẻ”(lớp tuồng Lan Anh sinh Tiết Quỳ trong rừng sâu), một lớp tuồng hay, xúc động và đầy sáng tạo của Đào Tấn.

Về nghệ thuật biểu diễn, lớp tuồng này rất được ca ngợi khi đây là lần đầu tiên trong lịch sử sân khấu VN, hành động sinh đẻ được thể hiện trực tiếp trên sàn diễn. Đào Tấn đã cụ thể hoá tài tình trên sân khấu quan niệm rất đẹp của phương Đông và VN về sự sinh đẻ của người phụ nữ, một sự “nở nhụy khai hoa”. Sự “nở nhụy khai hoa” này càng đẹp hơn rất nhiều bởi đó là của người phụ nữ tuyệt vời như Lan Anh.

Có thể nói, nếu Tiết Cương là nhân vật trung tâm của “Hộ sanh đàn” thì Lan Anh lại là nhân vật đẹp nhất, lớn nhất trong vở tuồng này.

Trong phần xưng danh, Lan Anh gần như không cung cấp thông tin gì về riêng mình, nàng chỉ nói đến hạnh phúc cuộc sống của mình và Tiết Cương “Một động hoa đào một cõi riêng/hỏi tu mấy kiếp mong có được”. Trong suốt vở tuồng, các nhân vật khác chỉ gọi Lan Anh bằng đại từ duy nhất: phu nhân, phu nhân của trại chủ Tiết Cương. Theo tích tuồng thì Lan Anh vốn là nữ chúa Long Sơn trại. Như vậy, sau khi “đề duyên” cùng Tiết Cương, Lan Anh đã tình nguyện lùi lại phía sau, giao trọn quyền chủ nhân Long Sơn trại cho chàng. Qua hai lớp tuồng tổ chức phục binh cứu Tiết Cương và cùng Tiết Cương phá vòng vây Võ Tam Tư, Đào Tấn đã cho ta biết võ công và mưu trí hơn người của Lan Anh. Nhưng đó không phải là quan tâm chính của Đào Tấn. Quan tâm chính của ông là vẻ đẹp tinh thần của người phụ nữ này, một người phụ nữ luôn tận tụy, xả thân vì chồng, là chỗ dựa tinh thần của chồng những khi gian nguy nhất, tự nguyện hy sinh gánh vác toàn bộ gánh nặng gia đình, giúp chồng vững dạ bền chí lo tròn cái “gánh non sông”. Khi Tiết Cương bị truy đuổi, không chốn nương thân, Lan Anh đem đến cho chàng một tình yêu và một tiểu giang sơn. Khi Tiết Cương gặp hiểm nguy, không quản đang bụng mang dạ chửa, nàng mang lâu la băng rừng cứu nạn kịp thời. Khi Tiết Cương rối trí, hoang mang bởi vừa thoát lưới giặc lại lạc vào núi thẳm chưa thấy đường ra, thì Lan Anh âu yếm vỗ về “Thưa phu quân! Miễn đặng đoàn viên một hội/lo chi tuấn hiểm ngàn trùng/ nay chúng ta gặp lại nhau đây/dẫu phiêu trôi đi nữa cũng có vợ có chồng/ta đi đường này không được thì ta đi đường khác/hãy lần lõi mà tìm đường tìm sá/chớ can chi mà phu quân buồn đó nào”. Trên đường núi gập ghềnh tăm tối, chông gai bít lối, mưa giăng mịt mù, Lan Anh cổ vũ Tiết Cương với câu hát “lao xao sóng vỗ ngọn tùng/gian nan là nợ anh hùng phải vay”. Đứa cháu thơ Tiết Giao, niềm hy vọng tương lai của dòng họ Tiết, cũng do Lan Anh nuôi nấng và tả xung hữu đột bảo bọc giữa mũi tên ngọn giáo. Và bây giờ, phía sau giặc đuổi, phía trước “non người nước khách cheo leo”, nói như Hồ Nô là “đang giữa đường giữa sá, đang chạy giặc chạy giã”, Lan Anh chuyển bụng “mình run khấp khởi lệ trào chứa chan”, đẻ rơi, sinh hạ cho Tiết Cương một đứa con trai. Hình ảnh Lan Anh vừa sinh xong lập tức một tay bồng cháu, một tay ẵm con tiếp tục xông pha trèo non vượt thác thoát khỏi trùng vây của kẻ thù đi tìm chồng với câu hát bất hủ “Vì vương mang gánh nghĩa gánh tình/phải lịu địu tay bồng tay ẵm/lịu địu tay bồng tay ẵm/vọi trông người biển thăm non cao” có lẽ là một trong những hình ảnh kỳ vĩ nhất của một người phụ nữ mà một nền sân khấu có thể sáng tạo.

Trong lớp tuồng này, Đào Tấn đã cho sự hiếu hạnh của Lan Anh kinh động đến thánh thần khiến họ cử sứ giả hộ thai xuống giúp cuộc vượt cạn gian nan và thiêng liêng trong rừng thẳm của nàng.

Trời đất thánh thần đã lập một “đàn hộ sinh” giúp Lan Anh vuông tròn sinh nở. Nhưng “Hộ sanh đàn” không chỉ có một “đàn hộ sinh” của thần thánh. Còn có một “đàn hộ sinh” khác của những con người, do Lan Anh cùng cả một lớp người như Hồ Nô, Tú Hà, Tiết An, Ngũ Hùng, Tần Hán…kết hợp lập nên để cứu sinh, hộ sinh cho ý chí phục thù, khát vọng cứu nước của người anh hùng Tiết Cương.

Cũng giống như Triệu Khánh Sanh trong “Diễn Võ đình”, Tiết Cương cũng mang dòng dõi công hầu, cũng “sức địch vạn nhân” (lời của Tam Tư về võ nghệ của Tiết Cương) và cũng bị các thế lực thù địch săn đuổi truy sát tận cùng. Nếu Khánh Sanh từng vô hạn trống trải, cô độc với câu hỏi “biết đâu là nhà” thì Tiết Cương cũng đã có lúc thoái chí, tuyệt vọng “ngóng tùng thu non nước hỡi xa xôi /nhìn cung kiếm mặt mày thêm tủi hổ”.

Tuy vậy, hạnh phúc hơn Khánh Sanh, Tiết Cương đã tìm được “nhà” của mình. Đó là tình yêu lớn của Lan Anh, tấm lòng trung hậu của Hồ Nô, sự tiết liệt của Tú Hà, nghĩa khí bằng hữu của Ngũ Hùng—Tần Hán. Tiết Cương đã vượt qua mọi gian nan, thách thức, bao phen thập tử nhất sinh chính nhờ những con người này và cuối cùng chàng đã cùng họ làm một tam hùng hội liên kết Long Sơn trại và Hùng Sơn trại thành một căn cứ địa vững chắc để mưu ngày “Hải vũ tùng kim bát biểu thanh”(Chế ngự được mưa nguồn bão biển đem lại thanh bình cho bốn phương tám hướng).

Trong những con người lập nên “đàn hộ sinh” cho ý chí phục quốc của Tiết Cương thì Hồ Nô, người hầu gái trung thành, gắn bó như bóng với hình cùng Lan Anh, là nhân vật rất đáng chú ý. Đây là nhân vật người dân tộc thiểu số đầu tiên xuất hiện trên sân khấu nước ta và là nhân vật được Đào Tấn dành nhiều công phu, tâm huyết xây dựng.

Hồ Nô tự kể về xuất xứ của mình như sau: “Cái thuở ông bà chưa nuôi tôi, tôi đi ăn bụi, ăn nu, ăn cao su, cánh kiến, tôi ở trên rú trên ri, tháng ni qua tháng khác” Nhưng lạ thay, cô gái “ăn bụi ở rú tháng ni qua tháng khác đó” dường như làm được tất cả những gì mà vợ chồng Tiết Cương cần, từ việc lớn đến việc nhỏ, từ việc dễ đến việc khó. Ở trại, Hồ Nô bồng bế nuôi nấng Tiết Giao. Ra trận, Hồ Nô là tùy tướng tài năng mưu trí bên cạnh Lan Anh. Khi lạc rừng thì nhờ Hồ Nô vợ chồng họ mới tìm được đường ra và “một đoàn tớ trước thầy sau” níu lấy Hồ Nô để Hồ Nô “đi trước đem đừờng cho”. Lúc Lan Anh đẻ rơi Tiết Quỳ giữa đường lánh giặc, cũng một tay Hồ Nô dìu đỡ. Và cũng lại là Hồ Nô phát hiện ra cái miếu hoang giữa rừng, chính là miếu thờ tổ Tiết Nhân Quý, đưa Lan Anh đến thắp hương cầu khấn, nhờ đức tổ hiển linh giúp vợ chồng sum họp, giúp Tiết Cương đủ sức đánh bại Võ Tam Tư. Không chỉ tận tụy, chất phác, dạt dào tình thương, Hồ Nô còn tỏ ra rất thông minh, thông tỏ sự đời, lẽ đời. Trả lời câu hỏi của Lan Anh: “Vậy chớ trẻ tay chân có đưa nào theo không?”, Hồ Nô tỉnh rụi: “Lúc bà ở nhà nhiều tiền, nhiều bạc, hắn đến hắn nịnh, hắn dạ, xin kiếm, chớ chừ bà chạy giặc chạy giã cực khổ, hắn theo hắn ăn chi?”. Cám cảnh chìm nổi vô chừng của vợ chồng Tiết Cương, Hồ Nô có một câu hát đầy triết lý mà người xem rất thuộc “Mịt mù khói toả mây giăng/những người trung hiếu cam phần gian nan”. Mà không chỉ có câu hát này, rất nhiều câu hát khác của Hồ Nô trong “Hộ sanh đàn” đã in đậm trong trí nhớ người xem nhiều thế hệ: “Sụt sùi lụy nhỏ thấm bầu/hạt cơm tấm áo dễ nào quên ơn”, “ngày ngày lặn suối, trèo non/bao giờ cho đặng vuông tròn như xưa”. Và đây là bài hát ru tuyệt hay của Hồ Nô ru cậu bé sơ sinh Tiết Quỳ:

Tai nghe văng vẳng thảo trùng là trùng thảo trùng
Nhớ người quân tử thưong hại thương xót rưng rưng hai hàng
Kìa ai ngựa thếp đen vàng
Núy quan bắt chén thương hại thưong xót giải phiền làm khuây
Ông ông ơi
Tình lang vắng vẻ, vắng vẻ chốn này
Ngậm ngùi lòng thiếp ngồi đêm ngày thở than
Nước đà chảy xuống nhân gian là nhân gian
Hoa trôi động khẩu xê xang một mình

Đào Tấn đã sáng tác riêng cho nhân vật Hồ Nô một điệu lý với những tiếng đệm đặc trưng như ta ní nọ, kia kia kia, thương hại thương xót. Suốt trong năm lớp có mặt trên sân khấu, khi hát Hồ Nô chỉ hát một điệu lý này mà khán giả vẫn mê mẩn vì nó rất sinh động biến hoá và vì lời hát của nó ngộ nghĩnh, sâu sắc. Đó là những câu lục bát hay nhất trong “Hộ sanh đàn”, cùng với những câu Đào Tấn dành Lan Anh, Tiết Cương (hát nam). Có thể thấy, Đào Tấn dồn nhiều yêu mến gửi gắm vào nhân vật cô gái “Thượng du” độc đáo của mình.

Đào Tấn rất dụng công cho nhân vật Hồ Nô không chỉ vì tính kỳ mà chủ yếu bởi Hồ Nô là hình tượng có thể biểu hiện rõ phát hiện của ông về cái vĩ đại ở những con người bình thường, nhỏ bé, bần hàn nhất, thậm chí bị coi là “mọi rợ” nhất. Đặc biệt, để Hồ Nô trở thành một “thần hộ mệnh”, một ngôi sao dẫn đường hồn nhiên và thầm lặng của vợ chồng Tiết Cương—Lan Anh, dường như Đào Tấn đã kín đáo phát ngôn một tư tưởng rất mới của ông: muốn vượt qua khó khăn để sống còn và tranh đấu, hy vọng thành công, các lực lượng yêu nước phải biết dựa vào nhân dân lao động cùng khổ, đó sẽ là những người bảo vệ và đưa đường đáng tin cậy nhất của họ.

Như vậy, những con người hợp nên cái “đàn hộ sanh” cho ý chí bất khuất, quyết tâm trừ gian, diệt nịnh, khôi phục cơ đồ của Tiết Cương hầu hết là những người hoạn nạn, sa cơ, bất hạnh, những dân đen, những cùng đinh theo thứ bậc xã hội thời ấy. Những con người bần hàn này, như Mác từng nói, sẽ là cội nguồn của một cuộc cách mạng rung chuyển, bởi nếu làm cách mạng cái họ mất chỉ là xiềng xích và cái họ được sẽ là cả đất trời.

Trong câu hát khách đồng ca của Tiết Cương, Lan Anh, Hồ Nô, Ngũ Hùng, Tần Hán kết thúc vở tuồng “Hộ sanh đàn”:

Thế cuộc nan bình duy hữu hận
Tha hương tương khế khởi vô tình

Ta có thể nghe phảng phất cái khẩu hiệu lịch sử đầy sức tập hợp mà Các Mác đã gióng lên ở châu Âu giữa thế kỷ 19: “Hỡi những kẻ bần cùng, hãy liên kết lại”. Tuy sinh sau và mất sau Các Mác hơn 20 năm (Mác sinh 1818, mất 1883—Đào Tấn sinh 1845, mất 1907), nhưng có lẽ sinh thời Đào Tấn chưa có điều kiện tiếp cận triết học Mác. Tuy vậy, bằng quan hệ mật thiết với các văn thân sĩ phu yêu nước, bằng suy tư chiêm nghiệm, mẫn cảm của một nghệ sĩ thiên tài, Đào Tấn đã phần nào vỡ ra nhận thức mà trước đó Mác đã viết thành khẩu hiệu bên trời Tây. Và Đào Tấn đã bày tỏ nhận thức mới mẻ và đầy tính cách mạng đó trong vở tuồng cuối cùng của mình, “Hộ sanh đàn”.

Sâu sắc, mới mẻ về tư tưởng, bất ngờ trong phát triển hành động kịch, văn chương tinh tế, sinh động, nhiều sáng tạo về nghệ thuật biểu diễn và đặc biệt là việc xây dựng được cả một hệ thống nhân vật độc đáo, đầy sức sống như Tiết Cương, Lan Anh, Hồ Nô, Tú Hà, Tiết Nghĩa…là những gì đã tạo nên giá trị đặc biệt của “Hộ sanh đàn”, khiến nó không những được đánh giá là một đỉnh cao sáng tạo của Đào Tấn mà còn được coi là kiệt tác sân khấu của muôn đời./.

Gửi phản hồi

Tin tức khác