Hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính về GD-ĐT

Tác giả: Hồ Đức Hiệp

Tại Đại hội XII của Đảng đã nêu rõ: ‘’Giáo dục là quốc sách hàng đầu. Phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn. Phát triển giáo dục phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với tiến bộ khoa học kỹ thuật – công nghệ, yêu cầu phát triển nhân lực và thị trường lao động‘’.

minh hoa
Đảng và Nhà nước với mong muốn phát triển bền vững giáo dục và đào tạo nước nhà để góp phần xây dựng và phát triển đất nước, tuy nhiên ngành giáo dục vẫn chưa tiếp nối và phát huy tối đa truyền thống hiếu học của dân tộc, chưa xứng đáng với niềm tin và mong ước của nhân dân mà Đảng dành cho ngành giáo dục. Có rất nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp được Đảng, Quốc hội, Chính phủ đưa ra để Bộ Giáo dục và Đào tạo có cơ sở pháp lý làm căn cứ thực hiện những nhiệm vụ nói trên, như: Nghị quyết TW II (khóa VIII); Nghị quyết 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT; Nghị quyết 40/2000/NQ-QH10 về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông; Nghị quyết 88/2014/NQ-QH13 về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông; Chính phủ có quyết định 711/QĐ-TTG phê duyệt “Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020”; Nghị quyết số 44/NQ-CP ban hành chương trình hành động của Chính phủ về đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT,…

(ảnh minh họa)
Phát triển giáo dục đào tạo là xây dựng nền móng văn hóa dân tộc, là cơ sở để phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Giáo dục và đào tạo là cơ sở thiết yếu để đào tạo nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực chất lượng cao phục vụ yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Giáo dục là nhân tố có ý nghĩa quyết định đến đào tạo nguồn nhân lực cho nền sản xuất xã hội mà là trung tâm đào tạo nhân tài cho cả nước để góp phần xây dựng và phát triển đất nước.
Hơn ba mươi năm đổi mới, giáo dục đại học nước ta đã phát triển rõ rệt về quy mô, đa dạng hoá về loại hình và các hình thức đào tạo, bước đầu điều chỉnh cơ cấu hệ thống, cải tiến chương trình, quy trình đào tạo và huy động được nhiều nguồn lực xã hội.
Chất lượng giáo dục đại học ở một số ngành, lĩnh vực, cơ sở giáo dục đại học có những chuyển biến tích cực, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Đội ngũ cán bộ có trình độ đại học và trên đại học mà tuyệt đại đa số được đào tạo tại các cơ sở giáo dục trong nước đã góp phần quan trọng vào công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước.
Đại hội Đảng đã nhận định, chất lượng giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, nhất là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao vẫn còn hạn chế. Việc đổi mới căn bản và toàn diện được thực hiện đồng bộ ở mọi cấp học trên mọi phương diện, việc đổi mới giáo dục đại học cũng là một vấn đề nằm trong chủ trương đó. Để thực hiện chủ trương đổi mới giáo dục, tháng 11/2013, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã tiến hành Hội nghị lần thứ 8. Tại Hội nghị này, chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện về giáo dục đã được đưa vào Nghị quyết số 29.
Tuy nhiên, những thành tựu nói trên của giáo dục đại học chưa vững chắc, chưa mang tính hệ thống và cơ bản, chưa đáp ứng được những đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhu cầu học tập của nhân dân và yêu cầu hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới. Những yếu kém, bất cập về cơ chế quản lý, cơ cấu hệ thống, cơ cấu ngành nghề, mạng lưới cơ sở giáo dục đại học, quy trình đào tạo, phương pháp dạy và học, đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục, hiệu quả sử dụng nguồn lực và những tiêu cực trong thi cử, cấp bằng và một số hoạt động giáo dục khác cần sớm được khắc phục.
Bên cạnh đó, hiện đại hoá hệ thống giáo dục đại học trên cơ sở kế thừa những thành quả giáo dục đào tạo của đất nước, phát huy bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa nhân loại, và tiếp cận xu thế phát triển giáo dục đại học tiên tiến trên thế giới. Trong đó đổi mới giáo dục đại học phải đảm bảo tính thực tiễn, hiệu quả và đồng bộ, lựa chọn khâu đột phá, lĩnh vực ưu tiên và cơ sở trọng điểm để tập trung nguồn lực tạo bước chuyển rõ rệt.
Việc mở rộng quy mô phải đi đôi với nâng cao chất lượng, thực hiện công bằng xã hội đi đôi với đảm bảo hiệu quả đào tạo và phải tiến hành đổi mới từ mục tiêu, quy trình, nội dung đến phương pháp dạy và học, phương thức đánh giá kết quả học tập, liên thông giữa các ngành, các hình thức, các trình độ đào tạo, đồng thời gắn bó chặt chẽ và tạo động lực để tiếp tục đổi mới giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp. Trên cơ sở đổi mới tư duy và cơ chế quản lý giáo dục đại học, kết hợp hợp lý và hiệu quả giữa việc phân định rõ chức năng, nhiệm vụ quản lý Nhà nước và việc đảm bảo quyền tự chủ, tăng cường trách nhiệm xã hội, tính minh bạch của các cơ sở giáo dục đại học. Phát huy tính tích cực và chủ động của các cơ sở giáo dục đại học trong công cuộc đổi mới mà nòng cốt là đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý và sự hưởng ứng, tham gia tích cực của toàn xã hội.
Hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính về giáo dục đại học là sự nghiệp của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Nhà nước tăng cường đầu tư cho giáo dục đại học, đồng thời đẩy mạnh xã hội hoá, tạo điều kiện thuận lợi về cơ chế chính sách để các tổ chức, cá nhân và toàn xã hội tham gia phát triển giáo dục đại học.
Trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay, nội dung chương trình giáo dục đại học nước ta đang bộc lộ rất nhiều bất cập và hạn chế: nội dung kiến thức đào tạo còn nặng về lý thuyết, nhẹ về thực hành, chưa tạo được sự thống nhất gắn mục tiêu giáo dục với mục tiêu tìm kiếm việc làm đối với người học, cùng khả năng liên thông kiến thức giữa các cơ sở giáo dục đại học ở nước ta hiện nay còn rất hạn chế, cục bộ, ít thừa nhận các kết quả đào tạo của nhau… người học rất khó khăn khi chuyển trường, ngành học.
Việc liên thông kiến thức giữa các cơ sở giáo dục đại học trong nước và ngoài nước lại càng khó khăn hơn do có sự khác biệt về khung chương trình đào tạo, phương pháp đào tạo giữa các cơ sở giáo dục đại học trong nước và quốc tế, vô hình chung tạo rào cản, gây khó khăn cho người học khi muốn chuyển đến cơ sở giáo dục ngoài nước hoặc trong nước, dẫn đến sự cục bộ và lợi ích nhóm trong việc thừa nhận văn bằng, chứng chỉ giữa các cơ sở giáo dục. Nhiều trường đại học, cao đẳng trong cả nước đã bắt đầu áp dụng phương pháp giảng dạy tích cực cho sinh viên, tuy nhiên sự đổi mới về phương pháp giảng dạy trong các trường đại học ở nước ta hiện nay chỉ mang tính hình thức, cứng nhắc trong chương trình, nghiên cứu khoa học chưa được chú trọng, thi đua còn mang tính đối phó và ở đâu đó vẫn còn cơ chế ‘’xin-cho’’… trang thiết bị giảng dạy, như: máy chiếu, bài giảng điện tử, tài liệu… chỉ là phương tiện hỗ trợ nhằm nâng cao chất lượng phục vụ công tác giảng dạy nhưng điều quan trọng là phải mang tính sáng tạo, cho phép người dạy được linh động thời gian trong mỗi tiết giảng thực chất và chú trọng đổi mới chương trình phù hợp với nhu cầu thực tế của xã hội.
Chính sách đãi ngộ cùng cơ sở vật chất phục vụ cho nghiên cứu khoa học chưa thực sự được quan tâm, trong khi tại các quốc gia có nền giáo dục tiên tiến với đội ngũ các nhà khoa học đông đảo có trình độ nghiên cứu và công bố các kết quả nghiên cứu trong nước và quốc tế với số lượng lớn.
Thời gian vừa qua, Chính phủ đã có sự quan tâm, khuyến khích các cơ sở giáo dục, nhà khoa học tập trung nghiên cứu nhưng kết quả vẫn còn hạn chế, thậm chí có xu hướng ngày càng tụt hậu xa hơn so với nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới.
Để nhanh chóng đáp ứng yêu cầu của đất nước trong giai đoạn mới, giáo dục đại học nước ta phải sớm hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính về giáo dục đại học một cách mạnh mẽ, cơ bản và toàn diện, sớm hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập. Đồng thời Bộ Giáo dục và Đào tạo nên thừa nhận quyền học tập và thừa nhận văn bằng của người học, như vậy mới đúng tinh thần của Hiến pháp và Chính phủ khuyến khích xã hội học tập và học tập suốt đời.
Việc thừa nhận trình độ, năng lực, chuyên môn của người học nên để xã hội tự đánh giá, đơn vị doanh nghiệp tuyển dụng lao động đánh giá, Bộ Giáo dục và Đào tạo không nên can thiệp quá sâu vào những công việc quá chi tiết, máy móc thay vì dành thời gian tập chung vào công tác điều hành và cải cách giáo dục được tốt hơn.
Bộ Giáo dục và Đào tạo cần tách bạch cụ thể hóa vai trò quản lý và trao quyền tự chủ cho các trường… việc kiểm định chất lượng giáo dục là hoạt động tự đánh giá của cơ sở giáo dục, đào tạo và đánh giá của các cơ quan có chức năng đánh giá độc lập. Bộ Giáo dục và Đào tạo không nên thành lập các đơn vị chuyên trách vô hình chung tăng thêm bộ máy nhân sự, tăng thêm biên chế, đi ngược lại với chính sách tinh giảm biên chế của Chính phủ.
Việc triển khai các hoạt động đánh giá, kiểm định chất lượng nhằm đảm bảo chất lượng giáo dục nên giao cho các đơn vị độc lập để hạn chế xảy ra lợi ích nhóm, cục bộ trong xây dựng văn bản, điều hành theo kiểu ‘’vừa đá bóng, vừa thổi còi’’, có như vậy nền giáo dục nước nhà mới minh bạch và phát triển theo kịp với các nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới (Mỹ, Anh, Đức, Pháp, Nhật,…)
Ngoài ra, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính về giáo dục đại học, sớm xóa bỏ bao cấp “xin – cho” điều hành hệ thống quản lý theo cơ chế thị trường. Giáo dục đại học không thể coi như giáo dục phổ cập, không là phúc lợi công miễn phí. Cần xác định và chuyển hoạt động giáo dục đại học từ dạng sự nghiệp công ích sang cơ chế dịch vụ phù hợp với kinh tế thị trường. Nhà nước và các cơ sở giáo dục đại học cần có các cơ chế chính sách động viên, khuyến khích các nhà khoa học nghiên cứu và tích cực công bố kết quả nghiên cứu trên các ấn phẩm khoa học quốc tế, tiến tới quốc tế hóa các tiêu chuẩn đánh giá các hoạt động khoa học, thừa nhận khung chương trình đào tạo, hệ thống văn bằng của nhau và các hoạt động về chuyên môn trong tất cả các cơ sở giáo dục đại học.
Như vậy, giáo dục đại học Việt Nam muốn hội nhập sâu hơn vào môi trường quốc tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, sớm có kế hoạch điều chỉnh, xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục đại học,… Đổi mới công tác thi đua, khen thưởng bảo đảm công khai, minh bạch với các tiêu chí rõ ràng, cụ thể gắn với hiệu quả công việc được giao.
Và, tiếp tục rà soát lại tất cả các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực giáo dục nhằm phát hiện các quy định trái pháp luật, mâu thuẫn, chồng chéo, hết hiệu lực hoặc không còn phù hợp với thực tế, không đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo để kịp thời kiến nghị cấp có thẩm quyền hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc thay thế.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nghị quyết TW II (khóa VIII); Nghị quyết 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT;
2. Nghị quyết 40/2000/NQ-QH10 về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông;
3. Nghị quyết 88/2014/NQ-QH13 về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông;
4. Chính phủ có quyết định 711/QĐ-TTG phê duyệt “Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020”;
5. Nghị quyết số 44/NQ-CP ban hành chương trình hành động của Chính phủ về đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT.

Gửi phản hồi

Tin tức khác