Hướng tới kỷ niệm 170 năm sinh danh nhân Đào Tấn (1845 – 2015): Cần tiếp tục quảng bá di sản Đào Tấn

Tác giả: NSUT Vương Duy Biên

Đầu tháng 11 vừa qua, GS Hoàng Chương – Tổng Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và Phát huy Văn hóa Dân tộc VN – có trực tiếp đề nghị tôi chủ trì cuộc họp bàn về việc tổ chức kỉ niệm 170 năm ngày sinh của vị hậu tổ Tuồng Đào Tấn, trong đó có những nội dung như: tổ chức liên hoan kết hợp hội thảo về tuồng Đào Tấn, đề xuất với Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận Đào Tấn là danh nhân văn hóa thế giới.

Tuong

Một cảnh trong vở “Đào Tam Xuân loạn trào” do tập thể diễn viên Nhà hát tuồng Đào Tấn biểu diễn – Nguồn:Internet

Tôi thấy ý tưởng của GS Hoàng Chương rất hay nên đã chủ trì cuộc họp có đại diện các cơ quan như: Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam, Cục Nghệ thuật biểu diễn, Văn phòng Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch và Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn & Phát huy văn hóa dân tộc VN. Một điều rất mừng là cuộc họp đã nhất trí những nội dung trên và kịp thời thông báo tới lãnh đạo tỉnh Bình Định và tôi cũng được biết lãnh đạo tỉnh Bình Định đã thống nhất nội dung và kế hoạch tổ chức kỉ niệm 170 năm sinh danh nhân Đào Tấn, một soạn giả lớn, một nghệ sĩ lớn nhất của nền kịch hát dân tộc Việt Nam, người đã được toàn ngành hát bội (tuồng) tôn vinh là Hậu Tổ.

Đào Tấn sinh tháng 8 năm 1845 và mất vào rằm tháng 7 (âm lịch) 1907, đến năm 2015 là tròn 170 năm sinh. Đào Tấn “là học trò cụ Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu (tác giả các vở tuồng Ngũ hổ Bình Liêu, Hồ Nguyệt Cô hóa cáo, Liệu đố). Đào Tấn đỗ cử nhân khoa Đinh Mão (1867) tại trường thi Bình Định. Bốn năm sau, ông được triều đình gọi ra Huế làm quan Hiệu thư. Đến thời kỳ “bốn tháng ba vua”, ông bỏ quan về nhà, tu ở chùa Linh Phong (tức chùa ông Núi). Tu được ba năm thì lại bị triều đình gọi ra làm quan:

Trong bài ký “Chùa Linh Phong”, ông Đào nói: “Những năm Kiến Phước, Hàm Nghi, Tấn tôi bỏ quan về Nam gửi dấu ở núi chùa này”, và như nhiều tài liệu đã nói, cái “tội” bỏ quan của ông Đào bị triều đình giáng chức bốn cấp. Cũng trong bài ký này, ông nói: “Năm Thành Thái thứ bảy, năm Ất Dậu, Tấn tôi bị làm Thượng thư Bộ công”. Nhiều bài thơ, bài từ của ông biểu hiện tâm trạng ray rứt, đau buồn về chuyện làm quan, như bài: “Đêm trừ tịch nhân đọc sách tình cờ viết” chế giễu bọn sâu dân, mọt nước trong chốn quan trường:

(Dịch) Năm mãi đổi thay thói chữa thay

Lật từng trang sách giữa đêm nay

Tuổi già ham đọc nhiều suy ngẫm

Cười chốn quan trường có mọt đây

Hoặc như bài: “Viết tình cờ” ông dặn các con chớ theo đường ông đã đi, con đường làm quan

Dịch:

Các con vốn chửa bận lòng

Công danh đâu phải là dòng văn chương

Bụi lầm sợ đến tê xương

Chớ chen vào chốn hí trường nhố nhăng

Dưới con mắt ông Đào nơi đây toàn là sâu mọt, là trò hề, là nơi bụi bặm… Vì vậy mà ông “chán cỗ xe quan lao vào gió bụi”. Đến khi được về hưu ông cảm thấy như trút hết gánh nặng, như rửa sạch bụi bặm của đời quan. Trong bài “Được trở về”, viết bài này tạm thay lời từ biệt ông thổ lộ:

(Dịch)

Đã bốn năm non Hồng cách biệt

Thơ “Hoài qui” ngồi viết đêm thu

Tiễn nhau cạn chén tiên ưu

Ông chỉ còn mỗi ước mơ làm sao cho đất nước thanh bình, và mang cái ước mơ này “Về nơi cửa trúc”, tức ngôi nhà tranh mà ông đặt tên là “Hương thảo thất” (nhà cỏ thơm):

(Dịch)

Trường an từ giã ra về

Trong mơ dắt nhạc thái hòa cùng đi

Tuy sinh trưởng ở Bình Định, nhưng Đào Tấn sống ở Huế đến 18 năm, ở Nghệ An mười năm, và chính nơi đây ông làm nên sự nghiệp nghệ thuật của mình, vì vậy đất Lam Hồng đối với Đào Tấn là tình yêu tha thiết. Hầu hết các vở tuồng hay như “Hộ sanh đàn”, “Trầm hương các”… và những bài thơ có tầm cỡ… ông đều viết trên đất Lam Hồng chiếm khối lượng khá lớn trong toàn bộ thơ văn của ông, như bài “Núi song ngư” tức (Hòn ngư án ngữ cửa Hội), cái hòn đảo bé nhỏ ấy qua con mắt Đào Tấn là hình ảnh thu hẹp của cả giang sơn, đất nước lúc ấy, mà Nghệ Tĩnh là vị trí tiền tiêu.

Suốt mười năm, hai lần sống trên đất Lam Hồng, Đào Tấn đội lốt ông quan cốt làm nghệ sĩ. Ông sử dụng toàn bộ nhân viên và lính tráng phục dịch cho tổng đốc để xây dựng đội tuồng. Hầu hết những nghệ sĩ tuồng nổi tiếng ở Bình Định và Nghệ An đều nằm trong biên chế ấy. Từ đó ông mở trường dạy nghề hát tuồng lấy tên là: “Học bộ đình” và xây dựng một rạp hát lấy tên là “Như thị quan” (nghĩa là hay xem chúng nói như thế đấy, cái gì như thế đấy? Chúng tôi hiểu cuộc sống nó như thế đấy) dựa vào lực lượng nghệ thuật và cơ sở nghệ thuật này ông đề xướng phương châm nghệ thuật và tuyên ngôn nghệ thuật dưới hình thức câu đối thờ tổ ở “Học bộ hình” và câu đối rạp hát “Như thị quan”.

Phương châm nghệ thuật của ông “Tùy xứ khôi hài, phùng trường tác hí”. Nghĩa là tùy chỗ, tùy đối tượng mà hài hước, châm biếm, chứ không nên hài hước, châm biếm. Tùy hoàn cảnh sân khấu mà diễn, mà viết, đồng nghĩa với thuật ngữ ngày nay chúng ta thường nói là phải biết thích ứng sân khấu, liều lượng và giác ngộ sân khấu. Nói cách khác là ông đề cập đến cái đẹp của nghệ thuật sân khấu.

Tuyên ngôn nghệ thuật của ông: “Thiên bất dự nhàn, thả hướng mang trung tầm tiểu hạ, sự đô như hí, hà tu giả xứ thiếu phi chân” nghĩa là trời đất (cuộc sống) chẳng cho nhàn (thôi thì mời bà con) đến chốn bận này tìm chút rỗi, (ý muốn nói chức năng giải trí của nghệ thuật; sự đời đều như kịch, chớ cười giả ấy chẳng là chân (ý muốn nói chức năng giáo dục của nghệ thuật và mối quan hệ giữa cái thật của cuộc đời với cái thật của sân khấu).

Phải nhận rằng, tác dụng của phương châm nghệ thuật và tuyên ngôn nghệ thuật này đã làm cho đội ngũ nghệ sĩ do ông gây dựng chóng trưởng thành, xuất hiện nhiều tài năng xuất sắc.

Suốt mười năm sống trên đất Lam Hồng, ngoài hoạt động nghệ thuật, ông Đào vô cùng kính phục Phan Đình Phùng, dưới danh nghĩa văn thân Nghệ Tĩnh (cổ nhiên không thể lấy danh nghĩa tổng đốc để ca ngợi địch thủ của triều đình) ông viết câu đối điếu Phan Đình Phùng bằng thể văn đặc biệt, duy nhất trong văn thơ Việt Nam, hai vế câu đối dài tới một trăm sáu mươi chữ (đã đăng tải trong hai công trình là “Văn thơ yêu nước” và trong “Đào Tấn, nhà thơ nghệ sĩ tuồng xuất sắc”, ông che chở cho Đề Niên, vị tướng lĩnh cuối cùng của phong trào Phan Đình Phùng còn sót lại, khỏi tội chết và khi Đề Niên qua đời ông điếu câu đối rất thống thiết.

Năm 1903, ông Đào là một trong những người đầu tiên tham gia Duy Tân hội của nhóm Nguyễn Hàm ở Quảng Nam chuẩn bị cho Phan Bội Châu và Cường Để sang Nhật (Cường Để tự thuật), theo tài liệu của Sơn Tùng trong cuốn “Búp sen xanh” thì Đào Tấn là bạn chí thân của cụ Nguyễn Sinh Sắc. Khi Đào Tấn về hưu bị ốm nặng, cụ Sắc nghe tin vào tận Vinh Thạnh thăm ông Đào. Nguồn tài liệu của Nguyễn Đắc Xuân trong “Văn hóa nghệ thuật” số 16 – 1982 còn cho biết Đào Tấn là bạn vong niên của Lê Văn Miến, họa sĩ vẽ sơn dầu đầu tiên của nước ta, và cũng là sĩ phu yêu nước. Ông Đào tiến cử Lê Văn Miến vào cung, bề ngoài vẽ chân dung cho Thành Thái, bên trong vẽ các kiểu súng bộ binh cho Thành Thái đúc, trang bị cho đội nữ binh của hoàng cung. Có lẽ đây là nguyên nhân chính của việc thực dân Pháp mượn tay Nguyễn Thân gây sự với Đào Tấn lúc về hưu. Chính vì vậy ngày ông Đào tạ thế, tập thể sĩ phu Nghệ Tĩnh điếu câu đối:

Hiền tướng phong lưu, hoan quận thập niên do truyền thảo

Danh viên tiêu tức, Lại giang thiên lý ức hàn mai

(Là ông quan văn hiền lành và phong lưu, suốt mười năm trên đất Châu Hoan còn để lại bao nhiêu tác phẩm; cái tin buồn từ khuôn vườn nổi tiếng đưa lại (ý nói Mai viên của Đào Tấn ở Vinh Thạnh) ôi chạnh nhớ cội Mai khí tiết ở sông Lại Giang nghìn dặm).

Rõ ràng thuở ấy người ta đã ít nghĩ Đào Tấn là ông quan, mặc dù ông đang làm quan to, mà chỉ nghĩ, chỉ yêu Đào Tấn nhà văn, người nghệ sĩ tài hoa. Duy có Gosselin, một võ quan Pháp (từng nhúng tay vào việc bắt vua Hàm Nghi) chú ý nhiều về hành vi của quan Đào Tấn, sau buổi tiếp xúc với Đào Tấn tại dinh tổng đốc ở nghệ An, hắn đã phải ghi nhận rằng: “Một đời tận tụy trong nhiều chức vụ quan trọng, Đào Tấn vẫn tay trắng thanh bần, bao nhiêu ấy đủ thơm danh hậu thế và làm cho đại nhân vượt lên trên hẳn nhiều đồng liêu khác ít được gương mẫu như đại nhân”.

Thật đáng biết ơn Đào Tấn, trong điều kiện lịch sử khắc nghiệt như vậy ông vẫn dồn hết tâm lực vun vén để lại cho quê hương đất nước hạt giống nghệ thuật tuồng quý báu, làm cho sân khấu tuồng nước ta rạng rỡ một thời.

Nhân dân làng Vinh Thạnh, huyện Tuy Phước tỉnh Bình Định mãi nhắc tới chuyện cụ Đào Tấn giỗ cha bằng một buổi diễn tuồng. Các vai chính trong tuồng do chính cha con ông Đào biểu diễn, các nghệ sĩ trong “Học bộ đình” Vinh Thạnh chỉ giúp việc hóa trang, dọn lớp và đóng các vai phụ. Ông Đào giỗ cha không dùng mâm cao cỗ đầy như thói thông thường của những nhà giàu, mà bằng thành quả lao động nghệ thuật của chính mình. Sống trong cái xã hội mà dư luận phổ biến đều cho rằng hát bội là “xướng ca vô loài”, là “hư hỏng” ấy vậy mà ông Đào tự nguyện xếp mình vào hạng người bị khinh rẻ ấy. Nhưng Đào Tấn lại là một ông quan nghiêm minh, đầy bản lĩnh, sẵn sàng trừng trị những tên tay sai của Pháp. Theo tài liệu của Quách Tấn: lúc Đào Tấn làm Phủ doãn Thừa Thiên có chém một tên “bồi Tây” tục gọi là Bồi Ba. Chuyện kể rằng, tên này cậy thế Khâm sứ Pháp làm nhiều điều tàn ác, quần chúng ở khu chợ Đông Ba ai cũng ghê sợ hắn. Dư luận đến tai Đào Tấn, ông cho người theo dõi. Một hôm hắn gây tội ác, bắt được quả tang, ông ra lệnh chém đầu. Khâm sứ Pháp đến tận dinh Phủ doãn can thiệp, ông không nghe. Nhân dân Thừa Thiên Huế được tin tên Bồi Ba đã đền tội ai nấy đều hả dạ vì đã thoát khỏi cái nạn “bồi Tây”.

Theo tài liệu của Tiểu Cao Nguyễn Văn Mại chép trong “Lô giang tiểu sử” (trang 61, quyển hạ) thì Đào Tấn là người phụng chỉ lưỡng cung đến nhà Trấn Vũ (mẹ con Thành Thái bị an trí lâu ngày ở đây) đọc chiếu rước Thành Thái về nội các để chuẩn bị lên ngôi và tổ chức chống Pháp.

Suốt mấy chục năm, ba lần làm thượng thư, bốn lần làm tổng đốc, đến khi về hưu, Đào Tấn vẫn là một nghệ sĩ hát bội lừng danh. Ông để lại cho đời một sự nghiệp to lớn về thơ ca, kịch bản tuồng, lý luận tuồng và hàng trăm nghệ sĩ ông đào tạo ở các Học bộ đình(trường dạy hát bội ở Nghệ An, Quảng Nam, Bình Định). Nhà hát tuồng mang tên Đào Tấn hiện nay cũng là cơ sở thực hiện di sản Đào Tấn cả về lý thuyết đến thực hành. Theo tôi hiểu là phục dựng những vở tuồng của Đào Tấn theo phong cách nghệ thuật của Đào Tấn. Đó là nhiệm vụ vinh quang của nhà hát được mang tên danh nhân Đào Tấn. Có lẽ vì thế mà trong ngành tuồng nói riêng và khán giả yêu tuồng luôn luôn nhìn vào Nhà hát tuồng Đào Tấn bằng cặp mắt vừa ngưỡng mộ, vừa nể phục. Điều đó càng đòi hỏi sự nỗ lực của tập thể cán bộ và nghệ sĩ ở Nhà hát tuồng Đào Tấn không phụ lòng ông tổ của mình.

Gửi phản hồi

Tin tức khác