Làng Giàng sông Mã

Giàng tên chữ là Dương, ở đây có nhà họ Dương thành tên Dương Xá.

Làng Giàng thế kỷ IX đã là trung tâm cư trú của giáp Dương Xá. Theo cách phân chia đơn vị hành chính bấy giờ, giáp là một vùng đất đai, dân cư rộng lớn tương đương tổng, huyện sau này. Nếu họ Lê giáp Bối Lý chiếm cứ phía Nam gồm Đông Sơn, Quảng Xương, Nông Cống, thì họ Dương cai quản phía Bắc giáp sông Mã, sau là các huyện Thiệu Hóa, Triệu Sơn thế kỷ X, giáp trưởng Lê Lương Bối Lý giàu có nổi tiếng, hàng ngày trong nhà có cả ngàn thực khách vào ra ăn uống. Giáp trưởng họ Dương đến đời Dương Đình Nghệ cũng là một hào phú mang chí lớn dời non lấp bể, 3.000 con nuôi đều là tráng sĩ, ngày cày ruộng, tối luyện võ nghệ. Dương Đình Nghệ được tiết đồ sứ Khúc Thừa Dụ phong làm tướng coi giữ đất Ái Châu,…

Từ miền Thọ Xuân, sông Lương (gọi lầm sông Chu) gặp sông Mã ở ngã ba Giàng, tạo thành phong cảnh làng xóm trù phú, chợ búa đông vui, bến thuyền nhộn nhịp… làng Giàng tức Dương Xá thuộc xã Thiệu Dương ngày nay, cảnh vật hình thành khoảng một vạn năm trở lại đây, thuộc thế toàn tân của kỷ đệ tứ. Bấy giờ địa mạo nhiều lồi lõm tạo ra sự phong phú cho cảnh vật. Trong một khu lưu vực sông Mã, nơi chót đuôi con rồng núi Đông Sơn cuộn mình 99 khúc, bên cạnh khe, ngòi, hồ, mau, đồi, gò, núi non, bái cao, đồng lầy…. điều kiện tự nhiên nhiều thuận lợi để muôn loài, vạn vật sinh tụ và phát triển.

Phong phú đáng kể nhất là những cánh đồng sâu trũng, ngoài ốc, cua, tôm, cá, rong tảo… còn lúa hoang, lúa rài… là địa bàn sinh sống của nhiều loài chim nước ngày đêm mở hội. Sản phẩm thiên nhiên là nguồn thức ăn giàu có đối với người tiền Đông Sơn: Cồn Chân Tiên, Đông Khối… thuộc giai đoạn cuối thời kỳ đá Mới, đầu thời đại đồ đồng.

Đền thờ Anh hùng dân tộc Dương Đình Nghệ ở làng Giàng.

Đền thờ Anh hùng dân tộc Dương Đình Nghệ ở làng Giàng.

Từ làng Giàng – Dương Xá đi ra, trên cánh đồng kề bên đường cái, năm 1960, cán bộ khảo cổ nước ta phát hiện một di chỉ văn hóa đồng thau quan trọng, niên đại trước công nguyên khoảng trước sau thế kỷ V. Tầng văn hóa khảo cổ ở đây vừa rộng vừa sâu, bề mặt chừng 50.000m2. Trong phạm vi di tích đã khai quật 10.800m2, phát lộ một khu mộ táng lớn 115 ngôi. Trừ 2 ngôi mộ không có đồ tùy táng, còn 113 mộ kèm theo đồ tùy táng nhưng số lượng và loại hình khác nhau. 53 mộ chỉ có đồ gốm, 36 mộ, ngoài đồ gốm có rất ít hiện vật bằng đồng, 4 mộ có hơn 20 hiện vật, trong số này mộ nhiều nhất chiếm tới 36 hiện vật bằng đồng. So với mộ táng di chỉ văn hóa địa điểm Đông Sơn 169 ngôi, hiện vật bằng đồng mộ nhiều nhất 20 hiện vật, đặc biệt có 16 mộ chỉ có hiện vật bằng đồ đá (dĩ nhiên trong thời đại đồ đồng vẫn sử dụng một số công cụ bằng đá). Hình thức mai táng khác nhau.

Ở Thiệu Dương – Làng Giàng, hình thức mai táng đa số chôn người chết nằm ngửa, chân tay duỗi thẳng, một số bộ xương hai tay trong tư thế bị trói quặt ra đằng sau. Lại có những bộ xương không có đầu. Đặc biệt có một đầu người chôn trang trọng trong thạp đồng đúc nổi hoa văn rất đẹp. Nói riêng số lượng vũ khí chôn theo người chết ở di chỉ Thiệu Dương – Làng Giàng chiếm 59,8% tổng số hiện vật, ở di chỉ Đông Sơn – Hàm Rồng 63,9% tổng số hiện vật.

Số lượng và loại hình hiện vật tùy táng các hình thức chôn cất, nói lên thành phần tầng lớp xã hội Thiệu Dương – Làng Giàng khoảng thế kỷ V đã phân chia rõ rệt giàu, nghèo, trung bình. Và làng Giàng cũng như Đông Sơn bấy giờ đã trải qua cuộc chiến tranh bảo vệ quê hương xứ sở, kết quả họ đã chiến thắng, hy sinh không nhiều, mất một viên tướng chỉ huy, kẻ địch bị trừng trị đích đáng.

Căn cứ dấu tích di chỉ làng Giàng – Thiệu Dương để lại dấu vết một ngôi nhà nền đất có bếp lửa. Chắc chắn nhà sàn là cơ ngơi chủ yếu dành cho tầng lớp bậc trung trở lên, vì kiến trúc cột, dầm gỗ… không dễ đối với người nghèo. Cư dân làng Giàng cách nay hơn 2.000 năm trước, kinh tế nông nghiệp lúa nước là chính, đẩy săn bắt, hái lượm, nương rẫy, chài lưới xuống hàng thứ yếu, dĩ nhiên loại hình kinh tế phụ ấy vẫn chiếm vai trò quan trọng trong đời sống nông dân, nhất là khi thiên tai, địch họa khiến mùa màng thất bát.

Hiện vật tiêu biểu nhất cho nghề trồng lúa nước trước công nguyên ở làng Giàng – Thiệu Dương là những chiếc lưỡi cày hình dáng giống con bướm đang xòe cánh bay, đầu và thân bướm là họng tra cán to có lỗ chốt, đầu nhô lên cao, đuôi kéo dài xuống gần mũi cày, lưỡi mỏng dần, sắc hơi tù góc ở mũi. Chỉ trong một hố khai quật, phát hiện được 11 chiếc lưỡi cày cánh bướm, dài 10cm, cánh rộng 13cm, họng tra cán dài 8cm, đường kính họng 1 cm.

Các nhà khảo cổ nhận định dấu vết mòn ở hai rìa lưỡi cày chứng tỏ nông cụ này đã qua sử dụng xới, rẽ đất. Chúng thích hợp với loại đất phù sa cổ do súc vật cày kéo như trâu, bò nhà chăn nuôi. Dấu vết trâu đã tìm thấy đầu trâu chôn trong một hố đất sâu, đáy hố rải tro than. Chưa phát hiện được ở đây xương bò, nhưng nhà nông Giàng chắc chắn nuôi nhiều bò và ở di tích Đông Sơn phía đầu rồng gần Hàm Rồng, cán bộ khảo cổ phát hiện thấy một tượng bò bằng đất nung.

Loại đất phù sa cổ ven sông Mã quá trình bồi bổ lâu đời nhưng do mặt bằng dốc thường xuyên bị mưa lũ bào mòn, tầng đất phù sa còn lại mỏng. Những cánh đồng sâu trũng thích hợp giống lúa nước thường bị lầy lội, khó cày kéo. Nông dân bấy giờ chưa nắm được kỹ thuật thâm canh cày sâu cuốc bẫm, lưỡi cày cánh bướm rộng, dài như đã nói trên là hợp lý.

Đồng ruộng làng Giàng bấy giờ năm/hai vụ thu hoạch lúa tốt. Nhu cầu gặt hái đặt ra. Nông dân không thể chỉ dùng lưỡi dao cắt từng bông. Do đó công cụ liềm hái ra đời. Đây là một nông cụ loại hình độc đáo tìm thấy đầu tiên ở địa điểm khai quật cũng trên cánh đồng làng Giàng – Thiệu Dương, không phải một mà hai chiếc. Nông cụ không lớn như liềm hiện đại, chúng chỉ bằng cái lưỡi hái. Chiều dài mỗi chiếc liềm cổ đại làng Giàng – Thiệu Dương từ 8 đến 9cm, bản lưỡi rộng từ 1-2 cm. Một chiếc có đường gờ sống nổi ở giữa bề dài bản lưỡi, tác dụng cắt hai bên vì cả hai phía đều có lưỡi. Với chiếc liềm, năng suất thu hoạch lúa nhanh, gọn, kịp thời khi đồng ruộng lúa chín hàng loạt.

Căn cứ vào loại hình chõ gốm dụng cụ đồ xôi, phát hiện được ở những di chỉ thuộc thời kỳ đồng đỏ, nhà khảo cổ đoán dân Lạc Việt bấy giờ trồng lúa nếp là chính. Ở làng Giàng – Thiệu Dương đồ gốm được sản xuất nhiều. Nồi chõ gốm eo không thắt đáy như trước mà nở phình ra, hông gần bằng miệng nồi đáy để đồ được nhiều xôi hơn. Một chiếc đũa bằng đồng duy nhất ở Thanh Hóa và cả trên miền Bắc là đũa đồng phát hiện được ở di chỉ làng Giàng – Thiệu Dương. Có lẽ chiếc đũa này không để ăn cơm mà dùng vào việc đồ xôi. Công dụng nó làm chiếc đũa cắm vào nồi xôi để thông hơi khi đồ xôi.

Hiện vật đồ tùy táng cán bộ khảo cổ thu lượm, được tại di chỉ, giàu loại hình nói lên đời sống vật chất của người làng Giàng thời Hùng Vương những thế kỷ trước công nguyên khá phong phú. Ngoài số lượng vũ khí bằng đồng: giáo, lao, mũi tên, dao găm, kiếm sắt, tấm che ngực… chiếm số lượng lớn, là công cụ lao động và đồ dùng sinh hoạt: gương đồng, ấm đồng, tiền đồng, chì lưới, lưỡi đục, đồ trang sức bằng đá quí, đồ gốm…

Sự xuất hiện kiếm sắt bên cạnh đồ đồng, cho thấy kỹ thuật luyện đúc đồ sắt đã được biết đến trong thời kỳ đồng thau còn hưng thịnh. Một số ngôi mộ ở đây còn để lại vết tích dao sắt, rìu sắt, mai sắt… Có lẽ đồ sắt làng Giàng -Thiệu Dương đương thời khá nhiều nhưng vì nhược điểm đồ sắt dễ han rỉ, hư hỏng không tồn tại lâu đời như đồ đồng. Các nhà khảo cổ cho rằng đồ sắt luyện, đúc tại chỗ. Người thợ bấy giờ khai thác quặng, luyện sắt từ quặng thành những thỏi sắt rồi đúc bằng khuôn hai mang…

Những nghề phụ thiết yếu như làm nhà, đóng đồ, đan lát, chăn tằm, dệt vải, may vá… rất được chú trọng ngoài nông nghiệp trồng trọt, đánh cá. Đặc biệt ở đây tìm thấy cả loại kim khâu bằng đồng. Một chiếc kim có lỗ xâu sợi dây rất giống kim khâu len thời nay.

Làng Giàng – Thiệu Dương tuy không lớn bằng làng Sỏi núi Nưa, nhưng cũng là một trung tâm cư trú của miền Nam bên bờ sông Mã. Cư dân ở đây làm đủ các nghề mang tính tự túc tự cấp để tồn tại và phát triển. Để phát triển họ có giao lưu văn hóa vật chất và tinh thần, đem cái hay nét đẹp truyền bá nơi khác và học hỏi chúng bạn những gì ưu việt nhất.

Nếu làng Giàng – Thiệu Dương là một trong những trung tâm tiêu biểu trước công nguyên thì làng Sỏi núi Nưa là điển hình của Cửu Chân (Thanh Hóa) mấy thế kỷ sau công nguyên, ngọn lửa sáng văn hóa Đông Sơn bùng lên để kết thúc một thời đại văn minh rực rỡ.

Gửi phản hồi

Nguồn bài viết: Vanhoadoisong.vn

Tin tức khác