Làng Thọ Hạc 950 năm thành lập và phát triển

Tác giả: Lê Đức Nghi

Thục An Dương vương giữ nước, Thanh Hóa mang tên Bộ Cửu Chân. Thời Bắc thuộc Thanh Hóa mang tên Quận Cửu Chân. Đầu thế kỷ thứ VI, nhà Lương đổi Cửu Chân thành Ái Châu. Các nhà sử học Việt Nam có một nhận xét rất xác đáng: “Châu Ái là nơi bảo lưu các giá trị truyền thống của người Việt cổ ở vùng đồng bằng sông Mã”.

Bản đồ thành phố Thanh Hóa vẽ năm 1909, thể hiện vị trí thành Thọ Hạc màu đỏ, có 6 góc, ở giữa.

Bản đồ thành phố Thanh Hóa vẽ năm 1909, thể hiện vị trí thành Thọ Hạc màu đỏ, có 6 góc, ở giữa.

Đến thời độc lập, năm Thiên Thành thứ hai (1029) đời Lý Thái Tông đổi Ái Châu thành Thanh Hoa phủ. Tại trung tâm đồng bằng sông Mã, vùng đất Thanh Hóa hồi ấy xuất hiện một ngôi làng nhỏ, làng Thọ Hạc, mà ngày nay là tỉnh lỵ tỉnh Thanh Hóa. Kỷ niệm 210 năm thành lập đô thị tỉnh lỵ Thanh Hóa, một đàn Chim Hạc 13 con về đậu trên đỉnh Núi Long từ sáng ngày 13 đến hết ngày 16 tháng 11 năm 2014 thì bay đi. Đàn chim từ đâu bay đến rồi lại bay đi không ai rõ. Song điều đó khẳng định Chim Hạc là có thật, và sự thành lập Trại Hạc năm 1066, tồn tại vẫn là trại cho đến hết thời Lý – 1225, (Charles Robequain. Tỉnh Thanh Hóa. Nxb Thanh Hóa năm 2012).
Theo lời kể lại của người già từ đời này đến hết đời khác thì dòng họ đầu tiên đến khai khẩn trên vùng đất hoang mạc lắm ao hồ sông rạch, còn đầy rẫy rừng rậm với tên gọi Cồn Vua, Cồn Bày, Cồn Lim, Cồn Ông Hổ… là hậu duệ của Định quốc công Nguyễn Bặc.

Theo gia phả dòng họ Nguyễn Huy do Tú Tài Nguyễn Đạt (1864 – 1903) soạn thảo thì vào thế kỷ XVI, ngài Nghiêm Dực hầu Nguyễn quý công từ huyện Đông Triều tỉnh Hải Dương, trải qua thời loạn Mạc Đăng Dung, đã khiêng cáng mẹ già và ẵm theo hài cốt của cha là Nguyễn Trực Hề về quê cha đất tổ làng Thọ Hạc táng tại xứ Mộ Hộ. Ngày mẹ già qua đời thì cất mộ ở xứ Đồng Sách.

Người cháu nội đức Nghiêm Dực hầu là Nguyễn Tạo, năm 1670 đã 53 tuổi thì đỗ tiến sĩ. Cùng đỗ tiến sĩ với ông có Phạm Viết Tuên, là học trò tuổi 40. Vậy là cả hai thầy trò cùng đỗ tiến sĩ khoa thi Canh Tuất đời Lê Huyền Tông Uy Mục hoàng đế.

Vào thế kỷ XX-XXI, hậu duệ đời 16 là Nguyễn Huy Khiêm còn có tên Văn Khiêm con trai đại tá Nguyễn Huy Mỹ là tiến sĩ vật lý – Phó Giáo sư đang giảng dạy tại Trường ĐH Hồng Đức. Đến nay làng có thêm 2 tiến sỹ là Nguyễn Hữu Chiến về môi trường và Thiếu tướng Nguyễn Bá Dương về lịch sử quân sự.

Cũng vào thế kỷ XVI, dòng họ Lê Huy mà thủy tổ là Lê Vực, khai quốc công thần thời Lê Sơ, chuyển cư về cùng xây dựng làng Thọ Hạc. Gia phả dòng họ Lê Huy do cử nhân Lê Nguyên, tục gọi là Hường Nguyên viết có đoạn: “Họ Lê ta đời đời lấy hai chữ Trung Hậu làm căn bản trong nhà, cùng với họ Nguyễn, họ Đàm trong xã khăng khít với nhau như thế đứng ba chân vạc, hàng mấy trăm năm nay, lâu lắm rồi” cùng chung tay xây dựng làng Thọ Hạc.

Ba dòng họ Nguyễn – Lê – Đàm, và về sau còn hai dòng họ nữa là Trần và Đặng cùng góp công sức xây dựng làng Hạc để đến năm 1788, vua Quang Trung – Nguyễn Huệ cất 8 vạn quân ra Bắc tiêu diệt quân Tôn Sĩ Nghị, đã dừng chân ở làng Thọ Hạc làm ba việc:

Khởi thảo thư gửi Tôn Sĩ Nghị với lời lẽ ôn tồn tao nhã, ca ngợi đã thấy rõ sức mạnh thiên triều, nhằm làm cho Tôn Sĩ Nghị coi thường sức mạnh của quân dân Đại Việt.
Làm lễ thệ sư khẳng định đất nước Nam là do người nước Nam răng đen tóc ngắn làm chủ, cớ sao người phương Bắc răng trắng tóc dài lại sang xâm chiếm.
Hạ quyết tâm đánh thắng giặc Thanh trong thời gian ngắn nhất.

Hai di tích còn để lại trên vùng đất làng Thọ Hạc là: Bãi Dinh nay là phố Lợi 2, nơi đặt hành dinh vua Quang Trung -Nguyễn Huệ. Bãi Tàu Voi, phố Lợi I, nơi tập kết voi chiến của nhà vua. Bãi Long Nhương làng Đông Tác, nay đã xây dựng chùa Long Nhương, nơi tập kết ngựa chiến của tướng sĩ.

Cảm kích trước tấm lòng thịnh tình của người dân làng Hạc, nhất là các vị bô lão, nhà vua đã tặng chữ Thọ để ghép với Hạc Thành Thọ Hạc, ý nói sống lâu như chim Hạc.

15 năm sau, vua Gia Long khi đã thu phục xong toàn bộ giang sơn đất nước, ông ra Bắc Hà để nhận sắc phong của nhà Thanh, đã ở lại Thanh Hóa 26 ngày.

Phải đến năm 1828, dưới triều vua Minh Mệnh, nhờ mưa thuận gió hòa trong nhiều năm liền được mùa liên tiếp, có đủ thời gian chuẩn bị đầy đủ phương tiện, vật liệu, nhân lực mới tiến hành cho xây bằng gạch, mở bốn cửa: Hậu, Tiền, Hữu, Tả. Chỉ trong một thời gian ngắn, tòa thành đồ sộ đã xây dựng xong.

Thời bấy giờ xuất hiện câu ca dao:
Thanh Hoa thắng địa là nơi,
Rồng vờn hạt ngọc, Hạc bơi chân thành.

Theo thuyết phong thủy thì tòa thành nằm trên lưng chim hạc. Tiếc thay khi người ta mở đường đại lộ Lê Lợi lại đã ủi hết nền đất cao chỉ còn một mặt bằng như hiện nay. Chính vì việc xây dựng trên lưng chim Hạc mà tòa thành có tên gọi Hạc Thành.

Nội thành chỉ là nơi đặt trụ sở của các cơ quan đầu tỉnh, và là nơi trấn giữ của binh lính hoàng triều. Nơi có hành cung để đón vua khi vua nhà Nguyễn về thăm quý hương. Còn dân chúng tụ cư về buổi ban đầu lập nên 17 ấp thuộc hai giáp Đông Phố và Nam Phố do Lý trưởng quản lý về trật tự an ninh, thu thuế điền thổ nạp cho Cai tổng Thọ Hạc thu để nạp về huyện Đông Sơn. Công việc này làm từ 1804 đến năm 1899 khi vua Thành Thái ký đạo Dụ thành lập thị xã, năm 1913 vua Duy Tân ban đạo Dụ lập 10 phường, thực hành điều tra dân số thì mới tách thị thành ra khỏi nông thôn.

Đến năm 1943, Chánh Cẩm thành phố Thanh Hóa không còn biện pháp nào để quản lý trật tự an ninh chính trị nên công sứ chủ tỉnh Thanh Hóa phải cho lập phường đệ thất gồm phần đất từ đường sắt về phía đông của làng Thọ Hạc. Năm 1947, sau một năm kháng chiến toàn quốc, làng Thọ Hạc mới nhập lại như cũ cùng nhau trong đội hình xã Đông Thọ lớn gồm 7 làng, năm 1953 mới tách Đông Thọ gồm 2 làng Đông Tác, Thọ Hạc thuộc huyện Đông Sơn. Năm 1971, xã Đông Thọ được nhập về thị xã Thanh Hóa. Năm 1994 từ xã chuyển thành phường.

Năm 2010, toàn bộ đất đai và cư dân làng Thọ Hạc đã hoàn toàn đô thị hóa. Cuộc sống mới đã đổi thay toàn diện nếp sống cũ. Làng xưa chỉ còn trong hoài niệm của người tuổi cao.

Gửi phản hồi

Nguồn bài viết: Vanhoadoisong.vn

Tin tức khác