Lê Đại Cương với vai trò bảo hộ Chân Lạp

Tác giả: PGS.TS Nguyễn Đức Nhuệ - Viện Sử học

Từ nửa sau thế kỷ XVII trở đi, quá trình di dân của người Việt từ các địa phương miền Trung theo đường biển nhập cư vào vùng đất từ phía nam Bình Thuận trở vào ngày càng đông và trải ra trên một địa bàn rộng lớn. Mỗi bước tiến của cư dân Việt trên vùng đất mới đều gắn liền với những sự kiện lịch sử liên quan đến quan hệ giữa các chúa Nguyễn ở Đàng Trong và quốc vương Chân Lạp ở từng mức độ khác nhau (thân thiện, giúp đỡ, bảo hộ hay đối đầu), tuỳ thuộc vào bối cảnh lịch sử đương thời.

 Tượng thờ cúng Lê Đại Cương (hay còn gọi là Lê Đại Cang)

Tượng thờ cúng Lê Đại Cương (hay còn gọi là Lê Đại Cang)

Đầu triều Nguyễn, từ năm 1807, Quốc vương Chân Lạp là Nặc Ông Chăn bỏ Xiêm, xin về thần phục nhà Nguyễn.

Nặc Ông Chân sai bề tôi đến xin phong, vua Gia Long y cho và sai Tham tri Binh bộ là Ngô Nhân Tĩnh làm Chánh sứ, Ký lục Vĩnh Thanh là Trần Công Đàn làm Phó sứ, mang sắc ấn phong Nặc Chân làm quốc vương Chân Lạp, định ba năm một lần cống[1]. Tuy nhiên, trong nội bộ quý tộc Chân Lạp thường xuyên diễn ra bất hoà. Một nhóm dựa vào nhà Nguyễn, một nhóm dựa vào người Xiêm tranh đấu ngôi vị, buộc vua Gia Long phải xuống lệnh cho các trấn đạo ở Gia Định lập hương binh, chế áo trận, sửa khí giới, luyện thuốc đạn, chứa gạo lương, để phòng bị dụng binh. Tiếp đó, Gia Long cho điều 45 chiến thuyền cùng 2000 biền binh, chia làm ba đạo đến Tân Châu đóng giữ, đồng thời sai Ký lục Định Tường là Bùi Đức Mân và Quản trấn binh là Nguyễn Văn Tồn quản lãnh binh hai phủ Trà Vinh và Mân Thít đi theo để giúp Chân Lạp nếu sự biến xảy ra [2]. Tiếp đó, Gia Long sai Nguyễn Văn Nhân đi kinh lược Nam Vang; toàn bộ công việc ở Chân Lạp đều uỷ thác cho Nguyễn Văn Nhân toàn quyền quyết định. Gia Long cũng cho ban bố sáu điều cấm lệnh đối với quan quân khi trú binh ở Chân Lạp[3]. Nhà Nguyễn bảo hộ Chân Lạp bắt đầu từ thời điểm này.

Năm 1812, Chân Lạp có biến, em quốc vương Chân Lạp là Nặc Ông Nguyên đem theo nhiều tội nhân trốn đến Phủ Lật, sửa sang binh khí để tự giữ và đòi Nặc Ông Chăn cắt cho đất ba phủ (Phủ Ca Khu, phủ Lòng, phủ Trung) để ở. Nặc Ông Nguyên lại sai người cầu viện với Xiêm, vua Xiêm cho điều binh tướng đóng quân ở Bắc Tầm Bôn, thế rất hung dữ. Nặc Ông Chăn sợ, báo gấp cho Gia Định. Tổng trấn Nguyễn Văn Nhân đem quân đến đóng ở La Bích, tướng Xiêm đóng ở Bắc Tầm Bồn sợ không dám động quân. Gia Long sai đưa thư trách cho nước Xiêm, vua Xiêm được thư, ngầm rút quân về và quân của Nguyễn Văn Nhân cũng rút về Gia Định. Gia Long sai Nguyễn Văn Tồn đem 1.000 binh đồn Uy Viễn đóng giữ ở đất Chân Lạp, tiếp đó lại sai Trấn thủ Định Tường là Nguyễn Văn Thụy đem quân đến La Bích, nói phao là đi lấy gỗ, để viện trợ ngầm.

Nặc Ông Nguyên đem quân Xiêm về cướp La Bích. Quân Xiêm chia làm năm đạo đánh xuống. Các em của Nặc Ông Chăn là Nặc Ông Yêm, Nặc Ông Đôn đều chạy sang với người Xiêm. Nặc Ông Chăn bỏ thành chạy về Nam Vang, được quân của Nguyễn Văn Thụy đưa về Gia Định. Gia Long sai thành thần Gia Định dựng phiên để [4] cho ở phía đông thành, lại cấp cho Nặc Ông Chăn 3.000 quan tiền, 3.000 phương gạo, 2.000 lạng bạc, sa, trừu đều 20 tấm. Bộ lạc 1.500 người đều cấp đủ tiền gạo. Đồng thời vua Gia Long sai Nặc Ông Chăn hiệu triệu các quan Chân Lạp đem thuộc hạ chia theo quan quân các đạo điều khiển và sai các trấn Hà Tiên, Long Xuyên, Kiên Giang thăm dò tình hình động tĩnh của người Xiêm mà báo lên. Để chuẩn bị đem quân cứu Chân Lạp, nhà Nguyễn cho trưng hương binh ở Gia Định chia làm 35 cơ, mỗi cơ 9 đội, mỗi đội 50 người, chọn những quan viên nghỉ việc người nào quả quyết siêng năng sai làm quản cơ, cai đội để chỉ huy.

Nước Xiêm lúc bấy giờ đã suy yếu nên vua Xiêm phúc thư để cho nhà Nguyễn xử trí vấn đề nội bộ Chân Lạp. Năm 1813, Gia Long sai Tổng trấn Gia Định là Lê Văn Duyệt cùng với Hiệp trấn là Ngô Nhân Tĩnh đại phát thủy binh gồm hơn 13.000 người hội cùng sứ bộ Xiêm đưa Nặc Ông Chăn về nước. Lê Văn Duyệt đòi Xiêm trao trả Nặc Ông Nguyên nhưng vua Xiêm không chịu và vẫn lưu quân đóng ở Long Úc. Lê Văn Duyệt quyết định đóng quân lại khống chế Chân Lạp, đồng thời xin đắp thành Nam Vang cho quốc vương Chân Lạp ở, đắp thành Lô Yêm để chứa lương thực. Tháng 7 năm Quý Dậu (1813), hai thành Nam Vang và Lô Yêm đắp xong, Gia Long xuống chiếu cho Lê Văn Duyệt rút quân về, lưu Khâm sai Chưởng cơ là Nguyễn Văn Thuỵ chỉ huy 1.000 quân giữ thành Nam Vang, bảo hộ nước Chân Lạp[5], đồng thời hạ lệnh cho Gia Định xem đo đất Chân Lạp, đặt ba đường trạm: một từ sông Cam Bà đến Xỉ Khê đạo Quang Hóa, hai từ Trang Tân đến Thạch Yển, ba từ thành Lô Yêm đến Chế Lăng, sai điều động dân Chân Lạp sửa đắp, cứ 4.000 trượng đặt 1 nhà trạm, mỗi trạm 50 người phu trạm để thông báo việc ngoài biên.

Để cho Quốc vương Chân Lạp và dân Chân Lạp không ngờ vực trong việc bảo hộ, Gia Long nhắc nhở Nguyễn Văn Thụy rằng: “Những việc chính trị của nước Chân Lạp thì do Phiên vương và quan lại Chân Lạp xử lý, không được can thiệp kiềm chế. Chỉ có những tờ sớ tấu, công văn thì phải duyệt lại tinh tường rồi sau mới phát ra, cho hợp với thể lệ bảo hộ”, và “nghiêm cấm quân lính không được kinh doanh tư lợi để trọng quốc thể…”.

Sang thời Minh Mệnh, việc bảo hộ Chân Lạp càng được nhà Nguyễn chú trọng hơn. Năm 1820, vừa mới lên ngôi, để tỏ rõ ơn huệ đối với phiên thần, Minh Mệnh liền sai gửi cho vua nước Chân Lạp sắc thư và gấm Tống 10 cây, lụa vải đều 50 tấm, trừu lông 10 tấm, lại sai may áo trắng đưa đến nhà Nhu Viễn để cấp cho. Tuy nhiên, đầu thời Minh Mệnh, do công việc thổ mộc tương đối nặng nề, nhất là việc huy động dân binh người Chân Lạp trong quá trình đào sông Vĩnh Tế và do sự áp chế của quan lại bảo hộ nên người Chân Lạp đã nổi dậy chống lại chính quyền nhà Nguyễn, tiêu biểu là cuộc nổi dậy của Sư Kế (người Chân Lạp) vào năm 1820.

Sau vụ việc trên, chính sách của nhà Nguyễn đối với Chân Lạp được nới rộng hơn. Nhà Nguyễn ban nhiều ân huệ cho Quốc vương Chân Lạp nhằm ràng buộc chức phiên thần chặt chẽ hơn. Đối với người dân Chân Lạp, nhà Nguyễn cũng dành cho nhiều ưu đãi như chẩn cấp thóc gạo cứu đói, mở rộng việc buôn bán trao đổi ở vùng biên giới giữa hai nước v.v…

Không chỉ đảm nhận vai trò bảo hộ Chân Lạp nhằm tranh giành ảnh hưởng đối với nước Xiêm, mà nhà Nguyễn muốn thông qua việc bảo hộ để tăng cường phòng thủ vùng biên giới, chống sự xâm lấn của Xiên hoặc của Chân Lạp trước sự giúp đỡ và xúi giục của nước Xiêm. Việc xếp đặt quan lại Bảo hộ của nhà Nguyễn đã thể hiện rõ điều đó. Ví như:

– Năm 1821, Minh Mệnh xuống chiếu cho Khâm sai thống chế Nguyễn Văn Thuỵ đóng giữ đồn Châu Đốc, bảo hộ ấn nước Chân Lạp, trông coi cả việc biên phòng trấn Hà Tiên.

– Năm 1827, Minh Mệnh xuống chỉ chuẩn cho Thống chế Nguyễn Tuyên được theo chức vụ của mình hợp lực với viên bảo hộ ấn nước Chân Lạp, đóng giữ đồn Châu Đốc, lĩnh cả việc biên phòng trấn Hà Tiên. Đồng thời xuống chỉ chuẩn cho Tả tham Tri bộ Binh Bùi Minh Đức được gia hàm Thượng thư, hợp lực cùng với viên bảo hộ ấn nước Chân Lạp, đóng giữ đồn Châu Đốc, lĩnh cả việc biên phòng trấn ấy.

Trong đợt cải cách hành chính năm 1832, Minh Mệnh chia đặt lại các tỉnh ở Nam Kỳ. Nhà Nguyễn cho tách lấy 2 huyện Vĩnh An và Vĩnh Định thuộc trấn Vĩnh Thanh, gộp với đất Châu Đốc, lập làm tỉnh An Giang; viên Tổng đốc hai tỉnh Hà Tiên và An Giang được kiêm lĩnh ấn bảo hộ nước Chân Lạp. Về công việc ngoại giao với lân bang, Minh Mệnh quy định: các nước Xiêm La, Chân Lạp sai sứ đến giao hiếu và triều cống đều do quan Tổng đốc An – Hà xét xem đi qua những đâu, chuyển sức cho Bố chính An Giang theo từng khoản mà làm. Sứ bộ mà được chuẩn cho đến Kinh thì lập tức sửa soạn binh thuyền chuyển giao những hạt tiếp giáp hộ tống. Nếu có công văn đi lại Tổng đốc bàn cùng 2 ty Bố chính và Án sát làm cho ổn thoả. Công văn, đứng quan hàm Tổng đốc. Khi có giấy tờ gửi nước Xiêm thì dùng ấn quan phòng Tổng đốc; khi có giấy tờ gửi quốc vương Chân Lạp thì đóng ấn bảo hộ nước Chân Lạp. Nếu có việc gì không hợp pháp, thì người bị tội, đầu tiên là Tổng đốc, thứ đến Bố chính và Án sát.

Sau cải cách hành chính ở các địa phương Nam Kỳ (1832), Lê Đại Cương được triệu về Kinh đợi chỉ[6] và được cử làm Tổng đốc An – Hà (An Giang – Hà Tiên) kiêm lĩnh ấn “bảo hộ nước Chân Lạp”. Trước khi đi nhậm chức, Minh Mệnh vời Lê Đại Cương vào ra mắt và dụ rằng: “Ngươi làm việc nhanh nhẹn giỏi giang, đã hiểu biết rõ… Đại thần vì nước, nên hết sức làm việc nên làm, chớ vì cớ điêu toa, ngang ngạnh của kẻ xấu, mà cho rằng đường làm quan, lắm chỗ gập ghềnh, rồi đem lòng chán ngán chùn lại, một mực dựa dẫm hùn theo thì chẳng hoá ra phụ ơn nhà nước lắm sao?” và “An Giang là tỉnh mới đặt, trong thì trấn thủ, vỗ về nước Phiên, ngoài thì khống chế nước Xiêm, sự thể rất quan trọng. Ngươi nay cai trị đất ấy, phàm những việc quân, dân, trọng đại cùng thành trì và kho tàng đều nên hết sức lo liệu để phu phỉ ý ta mong ngươi làm được thành công”[7].

Giữ chức Tổng đốc An – Hà, kiêm bảo hộ nước Chân Lạp là công việc vô cùng trọng đại, liên quan trực tiếp đến vùng biên giới phía Nam. Được vua Minh Mệnh giao cho kiêm giữ chức bảo hộ Chân Lạp, chứng tỏ Lê Đại Cương có đầy đủ uy tín và năng lực của một vị quan từng trải trong Nam, ngoài Bắc, từng đảm nhiệm nhiều trọng trách to lớn mà chưa hề phụ lòng tin tưởng của các bậc quân vương. Tuy nhiên, đây lại là những thách thức to lớn nhất mà ông từng gặp phải trong cuộc đời quan trường của mình. Lê Đại Cương đảm nhiệm chức vụ Tổng đốc An – Hà chưa được bao lâu thì ở Gia Định xảy ra cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi.

Trong suốt thời gian cuộc nổi dậy diễn ra, vì liên đới đến việc thành Phiên An thất thủ, không ứng cứu kịp thời nên Lê Đại Cương bị triều đình luận tội, cách tuột hết quan chức, trở thành một người phu khiêng võng. Minh Mệnh xuống dụ cho thượng thư bộ Hộ là Trương Minh Giảng được đổi sang làm Thượng thư bộ Binh, Tổng đốc An Giang, Hà Tiên kiêm bảo hộ ấn nước Chân Lạp (năm 1833).

Tháng 10 năm Quý Tỵ (1833), Lê Đại Cương được khai phục làm Viên ngoại lang bộ Binh (Chánh ngũ phẩm), quyền sung chức Phó lãnh binh An Giang. Tiếp đó, đến tháng 12 ông được thăng thự Án sát, sung làm Lãnh binh tỉnh An Giang[8].

Tháng 2 năm Giáp Ngọ, Lê Đại Cương được thăng Bố chính sứ An Giang[9], tiếp đó thăng thự Tuần phủ An Giang.

Đầu năm Giáp Ngọ (1834), thự Tuần phủ An Giang là Lê Đại Cương mật tâu về mọi sự nghi trù tính làm việc biên phòng, xin đóng đại doanh ở nhà Nhu viễn Nam Vang rồi liệu lấy quan quân đóng giữ, để làm kế lâu dài. Đồng thời, ông đề nghị tổ chức nhân dân khai khẩn phần đất hoang dọc con đường bộ từ Quang Hóa trở lên giáp sông lớn, cho một bộ phận người Chăm xiêu giạt được lưu lại tại đó mà cày cấy, gây dựng sản nghiệp[10].

Năm 1835, Lê Đại Cương được thực thụ Tuần phủ An Giang, Minh Mệnh xuống dụ cho ông cùng với Tổng đốc là Trương Minh Giảng, kiêm lĩnh chức bảo hộ ấn nước Chân Lạp, đồng thời chuẩn điều bổ thêm một số viên chức (Hàn lâm viện thừa chỉ 2 viên, Tu soạn 3 viên, Kiểm thảo 3 viên, chánh Bát phẩm thư lại 6 viên, chánh Cửu phẩm thư lại 6 viên) đến thành Nam Vang để sai phái [11]…

Trong suốt thời Gia Long và Minh Mệnh, Chân Lạp trở thành phiên thần của nhà Nguyễn và thoát ly khỏi ảnh hưởng của nước Xiêm. Tuy nhiên, nước Xiêm mặc dù thể hiện mối quan hệ hòa hiếu với nhà Nguyễn nhưng cũng luôn tìm mọi cơ hội để giành lại quyền bảo hộ Chân Lạp từ tay nhà Nguyễn. Năm 1833, Lê Văn Khôi nổi dậy, chiếm thành Phiên An chống lại nhà Nguyễn đã cho người sang cầu viện nước Xiêm. Nhân cơ hội ấy, vua Xiêm quyết định điều động đại quân thủy bộ chia làm ba đường tiến sang đánh Chân Lạp và Việt Nam nhưng các cánh quân Xiêm đều bị quân Nguyễn chặn đánh quyết liệt. Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân đánh tan quân Xiêm ở cửa biển Thuận Cảng (thuộc huyện Đông Xuyên) và ở sông Cổ Độ, thu phục Hà Tiên, Châu Đốc, Nam Vang, đưa Nặc Ông Chăn về nước, dồn tướng Xiêm là Phi Nhã Chất Tri đến Phủ Lật. Âm mưu xâm chiếm Việt Nam và giành quyền bảo hộ Chân Lạp của nước Xiêm hoàn toàn thất bại.

Sau khi đánh tan quân Xiêm buộc Phi Nhã Chất Tri phải rút quân về, Nặc Ông Chăn được đưa trở về nước, Tổng đốc Trương Minh Giảng và Tuần phủ quân thứ Nam Vang là Lê Đại Cương tâu bày trù tính việc thiện hậu cho Chân Lạp gồm các nội dung sau:

1. Chia đặt quan Chân Lạp coi giữ những nơi trọng yếu.

2 . Xem xét đất Chân Lạp, thiết lập đồn trại.

3. Tuyển lực binh lính người Chân Lạp.

4. Tuyển chọn thổ binh người Chăm (dòng dõi người Thuận Hoá), người Chà (dòng giống Chà Và cư trú đất Chân Lạp).

5. Chỉnh đốn sửa sang đồ quân dụng cho nước Chân Lạp

6. Chiêu tập cơ binh An Biên.

7. Khám xét các thuyền buôn ở Quảng Biên.

8 . Kinh lý biên phòng tỉnh Hà Tiên [12].

Những điều tâu bày trên đều được Minh Mệnh đồng ý.

Đầu năm 1835, Nặc Ông Chăn chết không có con trai nối dõi, quan bảo hộ nhà Nguyễn ở Chân Lạp xin giao quyền cai quản Chân Lạp cho các đại thần Chân Lạp là La Kiên và Nhâm Vu. Minh Mệnh cho lập con gái Nặc Chăn là An May làm quận chúa Ngọc Vân cai quản việc nước. Minh Mệnh sai Phan Thanh Giản, Đại lý Tự khanh kiêm việc bộ Hình, sung Cơ mật viện đại thần mang bản châu phê đến đồn An Man tuyên chỉ, sai Tổng đốc Trương Minh Giảng, Tuần phủ Lê Đại Cương theo chỉ ý mà làm và tâu bày rõ ràng các việc:

– Con gái vua Chân Lạp là Ngọc Vân, nên cứ cho theo danh hiệu cũ mà xưng hô, hoặc có thể chước lượng đặt thêm là Chân Lạp quận chúa. Xét kỹ thêm nên làm thế nào, cốt cho nhân tâm được thuận tình, đợi sau này sẽ liệu dần.

– Chí hướng của các quan Chân Lạp như thế nào: hoặc từ trước đến giờ một mực muốn quay về với triều đình, hoặc muốn suy tôn Ngọc Vân để làm phên dậu cho triều đình, hay muốn chọn người thân thuộc khác của Quốc vương Chân Lạp (mà lập) cần phải xét cho được đích xác.

– Nước Chân Lạp hay hám lợi nhỏ, trong sự đi lại, giao tiếp với họ nên khéo vỗ về úy lạo để kết ơn; bất cứ vật quý hay thường, nhiều hay ít nên năng đãi họ để làm đẹp lòng họ, không nên tiếc phí tổn thì họ sẽ phục tùng mình, có thể để cho mình sai khiến.

– Quan Chân Lạp từ thập phẩm, cửu phẩm, bát phẩm nên châm chước liệu tâu xin cho quan hàm như Vệ úy, Phó vệ úy hay Cai đội để họ cảm kích. Còn quan hàm nước Chân Lạp mà họ hiện có thì cứ xưng hô như cũ để theo quốc tục họ. Lại xét trong quan liêu Chân Lạp, người nào hơi có tài cán, thực tâm xuất lực về triều đình thì những lúc nhàn rỗi nên cho gọi họ đến, vỗ về úy lạo, hỏi lấy những tập tục trong nước rồi bí mật kết tình thân hậu với họ, thì tất mua được lòng cảm tử của họ. Nhưng trong chốn đông người, đối với quan Chân Lạp, nên coi như nhau, không được phân biệt thân sơ [13]…

Tiếp đó, Minh Mệnh cho đổi đồn An Man ở Nam Vang làm thành Trấn Tây, sai chọn những viên chức, lại dịch ở các nha trong Lục bộ và Tự, Viện, từ Chủ sự đến Vị nhập lưu thư lại lấy 20 người, đều thăng lên một trật, rồi cho đi theo Tổng đốc Trương Minh Giảng và Tuần phủ Lê Đại Cương để sai phái công việc[14].

Tháng 3 năm Ất Mùi (1835), Minh Mệnh sai đắp thành Trấn Tây, bố trí quân đội để phòng giữ và đến tháng 1 năm ấy bắt đầu xếp đặt hệ thống quan lại ở thành Trấn Tây gồm 1 viên Trấn Tây tướng quân, 1 viên Tham tán đại thần, 1 quan võ làm Đề đốc, 1 quan văn làm Hiệp tán cơ vụ, 2 lãnh binh và 2 phó lãnh binh… Đông các điện Đại học sĩ Trương Minh Giảng được cử làm Trấn Tây thành Tướng quân, cho đeo ấn Trấn Tây tướng quân, vẫn lĩnh chức Tổng đốc An – Hà; Tuần phủ An Giang Lê Đại Cương sung làm Trấn Tây thành Tham tán, vẫn lĩnh chức Tuần phủ An Giang. Phàm toàn hạt thành Trấn Tây đều đặt dưới quyền cai quản của hai người này, không phải mang ấn và hàm Bảo hộ nước Chân Lạp. Đổi bổ thự Thống chế Hậu dinh Thần sách là Bùi Công Huyên làm thự Trấn Tây thành Đề đốc, chuyên coi quản quan quân trú phòng trong thành hạt, kiêm coi quan quân Chân Lạp, hiệp theo tướng quân bàn tính làm việc quân sự. Những quan viên, quân, dân, tiền, gạo và chính sự thuộc thành Trấn Tây đều do Tướng quân hiệp đồng Tham tán bàn bạc tiến hành, cùng đứng tên và quan hàm vào tờ tâu báo. Nếu có việc quan hệ đến quân sự ngoài biên, chuẩn cho Đề đốc và Tham tán được ngang vai nhau, cùng hội bàn. Trong tập tâu thì Tướng quân ký tên trước, thứ đến Tham tán, thứ nữa đến Đề đốc. Minh Mệnh sai quan phần việc đúc ấn quan phòng bằng đồng và sai may cờ lớn cấp cho Tướng quân, Tham tán và Đề đốc… Tháng 8 năm 1837, Lê Đại Cương được thăng quyền lĩnh ấn Tổng đốc quan phòng tỉnh An – Hà[15].

Đồng thời với việc xếp đặt quan lại, tổ chức quân đội ở Trấn Tây, lập đồn phòng thủ và mở mang đường sá nối liền Gia Định với Trấn Tây để thông tin được thông suốt, nhà Nguyễn cũng bắt đầu mở rộng công cuộc khẩn hoang ở đây. Tháng 8, năm Bính Thân (1836), nhà Nguyễn sai phát vãng các tù phạm ở Nam Kỳ đi làm đồn điền ở thành Trấn Tây. Minh Mệnh lệnh cho sáu tỉnh Gia Định, Biên Hoà, Vĩnh Long, Định Tường, An Giang, Hà Tiên đem những tù phạm quân lưu, đồ và sung làm lính đang bị giam giao cho Tướng quân, Tham tán ở thành Trấn Tây, gộp với những tù phạm quân lưu, đồ và sung làm lính thành Trấn Tây, chiếu theo tội tình nặng hay nhẹ, những tù bị tội đồ và những kẻ phải sung làm lính đều cho làm đồn điền binh; những kẻ bị tội quân lưu vẫn bị xiềng xích như cũ, cũng cho sung vào sở đồn điền trồng trọt, rồi liệu cấp cho trâu cày, đồ làm ruộng, để họ khai khẩn. Người nào nguyên là lính, thì hằng tháng cấp cho 5 tiền, 1 phương gạo, còn thì chỉ cấp cho gạo, đến khi thành ruộng rồi thì thôi không cấp nữa. Nếu có vợ con muốn đi theo cũng cho”. Chuẩn cho Tướng quân và Tham tán hiểu dụ rõ ràng: ai nấy đều nên yên phận, giữ phép, gắng sức mưu sinh, khiến ruộng đất ngày càng mở mang, sinh nở ngày đông đúc, để bảo vệ cho ngoài biên cương được mạnh mẽ [16].

Đặt ra Trấn Tây thành, Minh Mạng xác định rõ mục tiêu là ràng buộc chặt chẽ Chân Lạp, tách hẳn Chân Lạp khỏi sự ảnh hưởng của nước Xiêm, đồng thời coi Chân Lạp là bức phên dậu bảo vệ vùng biên giới Tây nam.

Việc can thiệp vào nội bộ Chân Lạp ngày càng được Minh Mệnh xúc tiến mạnh mẽ. Tháng 10 năm Đinh Dậu (1837), Minh Mệnh cho sắp xếp lại các đơn vị hành chính và tổ chức bộ máy ở Trấn Tây thành. Đến cuối năm 1839, 32 huyện ở Trấn Tây thành, nhà Nguyễn đã đặt đủ lưu quan và đến năm 1840, toàn bộ công việc ở Trấn Tây, nhà Nguyễn đều đứng ra chủ trì, sắp xếp từ việc tổ chức cai trị đến các hoạt động kinh tế và quân sự quốc phòng.

Chủ trương của Minh Mệnh đã gây nên phản ứng trong giới quý tộc Chân Lạp. Năm 1839, em Nặc Ông Chăn là Nặc Ông Yêm ở Bắc Tầm Bôn không theo quân Xiêm, mưu trở về nước, đem quyến thuộc và dân Chân Lạp hơn 9.000 người và hơn 800 thuyền theo đường biển trở về. Trương Minh Giảng cho vào thành rồi bắt ra hơn 200 người quyến thuộc và tòng đảng chia đem đi giam cầm ở Vĩnh Long và Gia Định, còn Nặc Ông Yêm thì bắt giải về Kinh. Sau khi Ngọc Vân bị đổi phong làm quận chúa và Ngọc Biện, Ngọc Thu, Ngọc Nguyên bị đổi phong làm huyện quân và chỉ được cấp lương hàng tháng, giới quý tộc Chân Lạp tỏ ra bất bình. Lập tức huyện quân Ngọc Biện bị giết; các quan lại người Chân Lạp là La Kiên, Trà Long, Nhâm Vu bị nhà Nguyễn bắt giam và giao cho các tỉnh Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên quản thúc, còn Ngọc Vân, Ngọc Thu và Ngọc Nguyên bị đưa về giam lỏng ở Gia Định.

Nhà Nguyễn tiếp tục công việc trực trị ở thành Trấn Tây. Năm 1840, nhà Nguyễn sai Lê Văn Đức làm Khâm sai đại thần, Doãn Uẩn làm phó đi kinh lý Trấn Tây, đo ruộng đất, chiếu theo bờ bãi, ao hồ và tình hình buôn bán để đặt các thứ thuế quan tân, thuế điền thổ. Năm 1841, Lê Văn Đức, Doãn Uẩn hội với Trương Minh Giảng tổ chức đấu thầu 130 bến sông thuyền được 2.590 lạng bạc, 3.952 thoi bạc, 1.120 quan tiền. Đấu thầu 3.006 bãi sông được 8.080 lạng bạc, 3.300 cân bông nõn…

Cuối thời Minh Mệnh, tình hình ở Trấn Tây trở nên rất phức tạp. Em Nặc Ông Chăn là Nặc Ông Đôn được sự giúp đỡ của nước Xiêm đã đem quân từ Bắc Tầm Bôn đánh xuống. Tướng Xiêm là Phi Nhã Chất Tri đem 6.000 quân đánh vào Chân Lạp. Lại điều mấy vạn quân đóng ở U Đông làm căn cứ. Nam Vang trở thành chiến trường của cuộc chiến Việt – Xiêm. Minh Mệnh phải cử Chưởng phủ Tả quân Phạm Văn Điển làm Kinh lược sứ Trấn Tây và Thống chế Nguyễn Tiến Lâm làm Tham tán đưa quân sang chống nhau với quân Xiêm. Khi Thiệu Trị lên ngôi (1841), tình hình Trấn Tây càng căng thẳng. Nhà Nguyễn đành phải cho quận chúa Ngọc Vân và Ngọc Thu, Ngọc Nguyên về Trấn Tây để mong làm yên lòng người Chân Lạp nhưng vẫn không đạt được kết quả. Cuối năm 1841, Tạ Quang Cự xin bỏ Trấn Tây, rút quân về An Giang. Thiệu Trị y theo và bắt cả Ngọc Vân đưa về. Quân Xiêm thừa cơ đem 75 chiến thuyền đánh đảo Phú Quốc. Hơn 5.000 quân Chân Lạp có sự giúp đỡ của quân Xiêm quấy rối biên giới Hà Tiên. Trong khi đó thì ở dọc sông Vĩnh Tế, dưới sự lãnh đạo của Lâm Sâm, người Khơmer đua nhau nổi dậy. Nhà Nguyễn buộc phải sai Lê Văn Đức làm Tổng thống quân vụ đem binh tướng đi trấn áp. Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Tiến Lâm giữ mặt Tiền Giang, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Công Nhàn giữ mặt Vĩnh Tế, Phạm Văn Điển và Nguyễn Văn Nhàn giữ mặt Hậu Giang. Ba mặt cùng tiến đánh dữ dội đuổi quân Xiêm và quân Chân Lạp ra khỏi biên giới. Năm 1842, Thiệu Trị cho bỏ tất cả các chức quan lại đặt ở Trấn Tây.

Quân Xiêm nhân cơ hội ấy đưa Nặc Ông Đôn về Nam Vang và đóng quân lại giữ quyền bảo hộ. Nhưng người Chân Lạp không chịu đã nổi lên chống lại quân Xiêm và cho người sang nhờ triều đình nhà Nguyễn can thiệp. Thiệu Trị liền sai Vũ Văn Giải đi kinh lý Chân Lạp nhằm lập lại trật tự vốn có.

Tháng 7 năm 1845, Vũ Văn Giải đến Gia Định hội với Nguyễn Tri Phương, Doãn Uẩn, Tôn Thất Nghị tiến quân sang Chân Lạp, lấy lại thành Nam Vang. Nguyễn Tri Phương và Doãn Uẩn đem quân đuổi đánh quân Xiêm, vây Nặc Ông Đôn và tướng Xiêm Chất Tri ở U Đông. Tháng 9 năm ấy, Chất Tri sai người sang xin giảng hoà với nhà Nguyễn. Nguyễn Tri Phương, Doãn Uẩn cùng với Chất Tri họp bàn rồi ký hoà ước hai bên cùng rút quân về, để Nặc Ông Đôn làm vua nước Chân Lạp. Nguyễn Tri Phương rút quân về đóng ở Trấn Tây chở quân Xiêm thi hành điều ước.

Cuối năm 1846, Nặc Đôn dâng biểu tạ tội và sai sứ đem lễ vật sang kinh đô Huế triều cống. Thiệu Trị phong cho Nặc Ông Đôn làm Quốc vương Chân Lạp và phong Ngọc Vân làm quận chúa Chân Lạp. Về phía Xiêm cũng thừa nhận như thế và Chân Lạp trở thành phiên thần nhận chức cống cho cả Việt Nam và Xiêm.

Đầu năm 1847, quân Nguyễn rút hết về An Giang, chấm dứt một thời gian dài 40 năm (1807-1847) bảo hộ Chân Lạp.

—————————————————————————–

[1] Đại Nam thực lục Đệ nhất kỷ, tập I, tr. 707

[2] Đại Nam thực lục Đệ nhất kỷ, tập I, tr. 799

[3] Sáu điều là: 1. Phàm tình hình ngoài biên, việc lớn thì cho đại tướng thân đi chỉ bảo, việc thường thì chỉ sai truyền báo. Còn các tướng nhỏ không được tiếp kiến vua Phiên, cũng không được cùng quan Phiên đi lại riêng. 2. Những lợi cá ở các sông đầm Chân Lạp quan quân không được mưu cầu đổi chác để đòi giá rẻ. 3. Thuyền đi việc công không được chở hàng hóa riêng, cũng không được kèm thêm thuyền buôn để mưu lợi. 4. Quan quân đóng thì dinh trại không được tự tiện vào nhà dân mà hống hách quấy rối. 5. Khi quan quân đi, không được dẫn theo dân Hán [Việt] trà trộn vào chợ phố ở Chân Lạp để rồi nói bậy về việc quân. 6. Quân nhu lương xướng đã có ở thành vận tải cung cấp, nếu nước Chân Lạp có tặng biếu cung ứng thì không được nhận bừa).

[4] Phiên để: Chỗ ở của phiên thần tại Kinh đô.

[5] Đại Nam thực lục Đệ nhất kỷ, tập I, tr. 865.

[6] Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, tập III, sđd, tr. 391.

[7] Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, tập III, sđd, tr. 426-427.

[8] Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, tập III, sđd, tr. 831, 901.

[9] Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, tập IV, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2004, tr. 53.

[10] Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, tập IV, sđd, tr. 103.

[11] Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ Chính biên.

[12] Đại Nam thực lục Đệ nhị kỷ, tập IV, tr. 297

[13] Đại Nam thực lục Đệ nhị kỷ, tập IV, tr. 490

[14] Đại Nam thực lục Đệ nhị kỷ, tập IV, tr. 490-491

[15] Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, tập V, Nxb Giáo dục, Hà Nội năm 2004, tr.141.

[16] Đại Nam thực lục Đệ nhị kỷ, tập IV, tr. 1007-1008.

Gửi phản hồi

Tin tức khác