Lễ hội Lam Kinh năm Bính Thân 2016 ( 583 năm ngày mất vua Lê Thái Tổ)

Tác giả: Nguyễn Văn Vương

Cứ đến ngày 21 và 22 tháng 8 âm lịch hàng năm, tại khu vực Lam Kinh, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa, nhân dân khắp mọi miền đất nước lại tập trung về dự lễ hội Lam Kinh, dâng hương tôn vinh tưởng nhớ người anh hùng dân tộc Lê Lợi.

Lê Lợi người sáng lập vương triều nhà Hậu Lê

Lê Lợi người sáng lập vương triều nhà Hậu Lê

Lê Thái tổ tên thật là Lê Lợi, sinh năm Ất Sửu 1385, mất năm Quý Sửu 1433. Thân sinh là Lê Khoáng, người thôn Như Áng, huyện Lương Giang ( ngày nay thuộc xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa). Thân mẫu là bà Trịnh Thị Ngọc Thương, theo sử sách cũ ghi lại thì ngày Lê Lợi ra đời trong nhà có hào quang đỏ chiếu sáng rực và mùi thơm ngào ngạt khắp làng. Khi lớn lên thì thông minh dũng lược, độ lượng hơn người, vẽ người tươi đẹp hùng vĩ, mắt sáng miệng rộng, mũi sống cao, xương mi mắt gồ lên, bả vai bên tả có bảy nốt ruồi, bước đi như rồng như hổ, tiếng nói vang vang như tiếng chuông, cả nhà đặt hy vọng vào người con trai út này (Lê Lợi có hai người anh trai là Lê Học và Lê Trừ), còn các bậc thức giả biết ngay đó là một người phi thường.

Lớn lên Lê Lợi làm chức Phụ Đạo ở Khả Lam, năm Lê Lợi 21 tuổi cũng là năm quân nhà Minh bên Trung Quốc tràn sang xâm lược nước ta (1406), cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược do nhà Hồ lãnh đạo đã nhanh chóng bị thất bại (1407). Ngay sau đó nhà Minh đặt ách đô hộ ở nước ta, chúng coi nhân dân ta như cỏ rác và làm nhiều điều bạo ngược, vì vậy mà nhân dân ta căm giận chúng đến xương tủy.

Hàng loạt các cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ đã bùng nổ ở khắp mọi nơi, trong đó tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của Trần Ngỗi –Trần Quý Khoáng (1407-1413), cuộc khởi nghĩa trên cuối cùng cũng đã thất bại. Lê lợi với con mắt của nhà chính trị quân sự tài ba, đã thấy được nguyên nhân thất bại của cuộc khởi nghĩa trên. Lê Lợi đã âm thầm cho một cuộc khởi nghĩa sau này, có quy mô to lớn hơn ở ngay chính trên quê hương mình. Cùng với quá trình chuẩn bị về dư luận, Lê Lợi đã gấp rút chuẩn bị cả về lực lượng, và tổ chức.

Đầu năm Bính Thân 1416, Lê Lợi đã long trọng tổ chức một cuộc hội thề ở Lũng Nhai (tức Lũng Mi, hay làng Mé, ngày nay thuộc xã Ngọc Phụng, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa). Sử gọi đó là “Hội thề Lũng Nhai), ngoài Lê Lợi ra, còn có 18 bậc hào kiệt thân tín khác như Lê Lai, Đinh Liệt, Nguyễn Trãi v.v… sau này những người này đều là tướng lĩnh của nghĩa quân Lam Sơn.

Đầu năm Mậu Tuất 1418, vào ngày mùng 2 Tết, Lê Lợi cùng với những người đồng chí chính thức dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn, long trọng làm lễ tế cờ xuất trận. Lê Lợi tự xưng là Bình Định Vương, truyền hịch đi khắp nước, kêu gọi nhân dân cả nước đồng lòng đứng dưới cờ khởi nghĩa đánh giặc cứu nước. Với lực lượng ban đầu không quá hơn 2000 người, và 14 con voi chiến, nghĩa quân Lam Sơn đã thắng trận đầu tại Lạc Thủy, khiến cho tướng nhà Minh là Mã Kỳ phải khiếp đảm.

Nhưng ngay sau đó, quân nhà Minh đã điên cuồng đem quân lên Lam Sơn đàn áp cuộc khởi nghĩa, Lê Lợi và nghĩa quân phải rút lui lên núi Chí Linh, quân Minh bao vây chặt núi Chí Linh. Trước tình thế nguy kịch, Lê Lai đã phải liều chết cứu chúa, đóng giả làm Lê Lợi, xông thẳng vào quân giặc cùng đội quân cảm tử, Lê Lai bị bắt, nhưng quân Minh tưởng đã bắt được Lê Lợi, nên chúng kéo quân về thành Tây Đô (thành nhà Hồ, ngày nay thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa), nhờ đó mà Lê Lợi đã thoát nạn, ngay sau đó Lê Lợi đã trở về Lam Sơn và gây dựng lại lực lượng.

Tháng 10 năm Canh Tý 1420, Lê Lợi dùng kế phục binh, đánh bại tướng giặc là Lý Ban, Phương Chính tại núi Chí Linh. Năm Tân Sửu 1421, phá tan quân Trần Trí và đánh đuổi quân Ai Lao (Lào) tiếp tay với giặc Minh.

Tháng 5 năm 1423, nghĩa quân Lam Sơn biết rằng không thể kéo dài cuộc đối đầu bằng vũ lực, và quân Minh cũng đã mệt mỏi bởi những cuộc động binh triền miên 5 năm trời, chúng biết chưa thể tiêu diệt được nghĩa quân Lam Sơn, vì vậy mà hai bên đã bước vào một thời kỳ tạm hòa hoãn. Lê Lợi đã tranh thủ thời gian hòa hoãn, cho quân lính sản xuất và tích trữ lương thực trong các kho bí mật, tu bổ và sắm sửa thêm vũ khí, tuyển mộ và cũng cố lực lượng. Vì vậy mà chỉ trong một thời gian ngắn, tiềm lực của nghĩa quân Lam Sơn đã được phục hồi và phát triển mạnh mẽ.

Đến tháng 10 năm Giáp Thìn 1424, tại Lam Sơn, Lê Lợi đã triệu tập và chủ trì một hội nghị quân sự rất quan trọng. Trong hội nghị này, Lê Lợi và bộ tham mưu chỉ huy nghĩa quân Lam Sơn đã có những quyết định lớn như chủ động tấn công quân Minh, chấm dứt hẳn thời kỳ tạm hòa hoãn, và bắt đầu bằng giai đoạn chiến đấu mới bằng việc thực hiện chiến lược của tướng quân Nguyễn Chích (1382-1448), đó là tiến quân vào Nghệ An để mở rộng địa bàn chiến lược.

Lê Lợi đã cùng nghĩa quân đánh vào Nghệ An, chiến dịch Bồ Liệp, chém được tướng giặc là Trần Trung, trận Trà Lân phá vỡ quân của Sư Hữu và giết chết tướng giặc là Trương Bản. Chỉ trong vòng một tháng, toàn bộ vùng đất Nghệ An đã được giải phóng. Chiếm được Nghệ An, sức mạnh của nghĩa quân Lam Sơn ngày càng mạnh mẽ, Lê Lợi liền đặt bản doanh của nghĩa quân ở núi Thiên Nhẫn. Đến đầu năm 1426, toàn bộ vùng đất từ Thanh Hóa trở vào Nghệ An đã được nghĩa quân Lam Sơn làm chủ. Từ đây tương quan lực lượng đã thay đổi giữa nghĩa quân Lam Sơn và giặc Minh. Lê Lợi quyết định tiến quân ra Đông Đô (Hà Nội) trải qua các trận ở Ninh Kiều, Nhân Mục (ngày nay thuộc Hà Nội), và Xa Lộc (ngày nay thuộc Phú Thọ), quân Minh bị đại bại ở khắp mọi nơi và phải co cụm về cố thủ trong thành Thăng Long.

Cuối năm Bính Ngọ1426, vua nhà Minh lúc bấy giờ là Minh Tuyên Tông (1398-1435), sai Thành Sơn Hầu là Vương Thông đem 5 vạn quân sang cứu nguy, nhưng khi Vương Thông vừa sang, nghĩa quân Lam Sơn đã đánh một trận quyết chiến chiến lược kiệt xuất ở Tốt Động – Chúc Động. Vương Thông mới sang đã bị đại bại và lui vào cố thủ ở thành Đông Quan chờ tiếp viện đến cứu. Mùa thu năm 1427, vua nhà Minh cử Tổng binh Liễu Thăng cầm đầu 10 van quân và một đạo quân khác gồm 5 vạn quân do lão tướng Mộc Thạnh cầm đầu chia làm hai đường kéo vào nước ta.

Bộ chỉ huy Lam Sơn, đứng đầu là Lê Lợi đã quyết định tiêu diệt toàn bộ quân tiếp viện của quân nhà Minh. Trận quyết chiến chiến lược với quân nhà Minh đó là trận Chi Lăng – Xương Giang đã diễn ra. Trong trận đánh lịch sử này, tướng giặc là Liễu Thăng đã bị chém đầu, Lý Khánh thì hốt hoảng thắt cổ tự tử, bởi vì y sợ có về nước cũng bị vua nhà Minh xử tử. Đô đốc Thôi Tụ, và Thượng thư Hoàng Phúc đều bị bắt sống. Toàn bộ quân Liễu Thăng cầm đầu đã bị nghĩa quân Lam Sơn đánh cho đại bại. Lão tướng Mộc Thạch nghe tin Liễu Thăng bị chết trận, khiếp sợ không dám đem quan tiến vào nước ta nữa.

Cuối cùng Tổng tư lệnh Vương Thông đành phải viết thư cầu hòa, và sau Hội thề Đông Quan, ngày 29/12/1427, hơn 86000 quân nhà Minh phải ôm hận rút quân về Trung Quốc. Như vậy là sau 10 năm kháng chiến, cuối cùng nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo đã hoàn toàn giành thắng lợi.

Đầu năm Mậu Thân 1428, Lê Lợi từ dinh Bồ Đề chuyển vào thành Đông Đô, đến ngày 29-4-1428, Lê Lợi chính thức lên ngôi vua tại điện Kính Thiên, xưng là Thuận Thiên thừa vận, Duệ Văn Anh Vũ đại vương, khôi phục quốc hiệu Đại Việt, đóng đô ở Đông Đô (ngày nay là Hà Nội), đại xá thiên hạ, ban bố Bình Ngô đại cáo (do Nguyễn Trãi soạn thảo).

Sau khi lên làm vua, về bộ máy Nhà nước thời Lê Lợi chủ yếu dựa vào quy chế tổ chức của các triều đại trước đó là Lý – Trần – Hồ, tuy nhiên nó đã là một bước tiến về mức độ tập trung chính quyền trung ương.

Về mặt ngoại giao: Mặc dù đã chiến thắng quân nhà Minh, nhưng do nước ta là một nước nhỏ so với Trung Quốc, nên Lê Lợi phải có chính sách bang giao mềm dẻo với nhà Minh, Lê Lợi đã cử các xứ thần sang Trung Quốc để đặt mối bang giao bình thường với nhà Minh, Lê Lợi cũng rất chú trọng đến việc bảo vệ biên giới vùng lãnh thổ nước ta. Nhà vua cũng đã từng nói: “Biên phòng cần có phương lược tốt – đất nước cần có kế sách bền lâu”.

Về mặt văn hóa giáo dục: Để tuyển chọn nhân tài và củng cố bộ máy cai trị, không chỉ quan tâm đến việc cầu hiền tài bằng cách tiến cử, mà Lê Lợi còn cho đặt ra các khoa thi. Năm 1429, Lê Lợi đã cho mở khoa thi Minh Kinh để khảo sát lại các quan văn võ từ tứ trấn trở xuống và tuyển chọn nhân tài bổ sung vào bộ máy quan liêu.

Tuy nhiên sau khi Lê Lợi lên làm vua, một số bậc công thần khai quốc như Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo đã bị sát hại. Về việc này có lẽ Lê Lợi cũng đã bắt chước “thuật dùng người” của các đế vương Trung Quốc thời xưa như Việt Vương Câu Tiễn thời Xuân Thu (770 tr.cn-475 Tr.cn) hay Hán Cao Tổ Lưu Bang (256 Tr.cn-194 Tr.cn) sau khi thành công đã sát hại các bậc trung thần, mục đích là để bảo vệ ngôi báu của mình, và cũng chính vì việc này mà Lê Lợi đã bị các nhà chép sử phàn nàn, chê trách.

Với việc giành lại độc lập và tự do cho dân tộc, và đặc biệt là kể từ khi lên làm vua, Lê Lợi đã gắng sức xây dựng một nền thái bình thịnh trị cho đất nước, vì vậy Lê Lợi xứng đáng là một trong những vị anh hùng tiêu biểu nhất trong lịch sử, là niềm tự hào bất diệt của dân tộc ta. Với triều đại nhà Hậu Lê, do Lê Lợi sáng lập nên, một bước ngoặt mới trong lịch sử dân tộc ta đã bắt đầu.

Vào ngày 22 tháng 8 âm lịch, năm Qúy Sửu 1433, Lê Lợi mất, hưởng dương được 48 tuổi, tổng cộng thời gian Lê Lợi ở ngôi vua được 5 năm. Sau khi mất, ông được an táng tại Vĩnh Lăng (Lam Sơn, Thanh Hóa). Miếu hiệu thường được gọi tắt là Lê Thái Tổ.

Gửi phản hồi

Tin tức khác