Mùa Vu Lan lại về

Tác giả: Nguyễn Tuấn

 

Trong đời sống hàng ngày, khi nói hiếu đạo, người ta nghĩ ngay đến công ơn dưỡng dục, sinh thành của người mẹ, người cha, được liên tưởng đến câu ca dao: “Công cha như núi Thái Sơn. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”. Núi cao vời vời, biễn rông mênh mông không bao giờ vơi cạn, không bao giờ khô héo…

Bàn tay mẹ

Ảnh: Bàn tay của Mẹ

Cho tròn chữ Hiếu, mới là đạo con.

Hiếu đạo vốn là một đạo lý có từ ngàn đời, tồn tại và thăng hoa trong thế giới con người từ muôn ngàn đời nay, tình yêu thương của cha mẹ dành cho con cái không những không vơi cạn mà còn lung linh dịu ngọt, êm đềm bay bổng theo dòng chảy thời gian để dưỡng nuôi những mầm sống được lớn khôn và trở thành hữu ích trong thế giới con người.

Đối với dân tộc có hàng ngàn năm văn hiến và truyền thống đạo đức lâu đời như dân tộc Việt Nam, những tấm gương hiếu đạo trong đời sống, qua nhiều thời đại là rất nhiều, nhiều không thể nào tính, đếm nỗi.

Dân tộc ta từ rất lâu xa đã sớm thích nghi và ứng dụng những tư tưởng tích cực về đạo lý làm người của Nho giáo như “Tam cương”, “Ngũ thường”, “Tam tòng”, “Tứ đức” vào đời sống gia đình và xã hội, điều này đã giúp cho nền đạo đức trong đời sống được bảo tồn và phát triển. Riêng đối với tinh thần hiếu đạo, người dân Việt Nam chúng ta cũng rất dễ đồng cảm và nhạy bén trong việc học tập theo những tấm gương hiếu thảo của bất kỳ một dân tộc nào.

Trong đời sống nhân gian, phương cách báo hiếu cũng đã được Khổng Tử đề ra: “Hiếu tử chi sự thân, cư tắc trí kỳ kính, dưỡng tắc trí kỳ lạc, bệnh tắc trí kỳ ưu, tang tắc trí kỳ ai, tế tắc trí kỳ nghiêm”. Trong cách ăn ở, cư xử của đời sông thường ngày, phải hết lòng cung kính, lúc nuôi dưỡng cha mẹ phải nhiệt tâm và vui vẻ, lúc cha mẹ đau ốm phải hết lòng lo lắng thuốc thang chữa chạy, khi ma chay thì phải hết lòng thương xót, khi cúng tế tang lễ thì phải trang nghiêm.

Có thể nói rằng, người xưa đã rất chú trọng đến tinh thần hiếu đạo, tuy nhiên việc báo hiếu lại thiên về đời sống thế gian, vì vậy mà các đấng sinh thành vẫn còn chịu nhiều thiệt thòi so với những gì mà họ đã ban cho thế giới con người.

Truyền thuyết lễ Vu Lan.

Lễ Vu Lan bắt nguồn từ sự tích về lòng hiếu thảo của ông Mục Liên.

Vốn là một tu sĩ khát đạo, Mục Liên đã quy y và trở thành một đệ tử lớn của Phật, và được liệt vào hạng thần thông đệ nhất trong hàng đệ tử của Phật.

Sau khi đã chứng quả A La Hán, Mục Liên nhớ về mẫu thân, bèn dùng huệ nhãn nhìn xuống cõi khổ, thấy mẹ mình bị đọa giữa bầy quỷ đói nơi địa ngục A Tì.

Nhìn mẹ thân hình tiều tụy, đói không được ăn, khát không được uống, Mục Liên vận dụng phép thần thông đến với mẹ và dâng cơm cho mẹ ăn. Nhưng ác nghiệt làm sao, những hạt cơm cứ gần tới miệng mẹ thì bỗng hóa thành lửa. Không có cách nào khác, Mục Liên trở về bạch chuyện Ðức Phật, xin được chỉ dạy cách cứu mẹ.

Phật cho Mục Liên biết vì nghiệp chướng của các kiếp trước mà mẹ ông phải sinh vào nơi ác đạo làm loài ngạ quỷ. Phật dạy, một mình Mục Liên thì vô phương cứu mẹ mà phải nhờ đến uy đức của chúng tăng khắp nơi, đồng tâm hiệp ý cầu xin cứu rỗi mới được.

Mục Liên phải thành kính đi rước chư tăng khắp mười phương về, đặc biệt là các vị đã đạt được sáu phép thần thông, nhờ công đức cầu nguyện của các vị này thì vong linh mẹ Mục Liên mới thoát khỏi khổ đạo.

Phật lại dạy Mục Liên sắm đủ các món thức thức thời trân, hương dâu đèn nến, giường chõng chiếu gối, chăn màn quần áo, thau rửa mặt, khăn lau tay… dâng cúng các vị chư tăng. Vào đúng dịp Rằm tháng 7, lập trai đàn để cầu nguyện. Trước khi thọ thực, các vị chư tăng sẽ chú tâm cầu nguyện cho cha mẹ và ông bà bảy đời của thí chủ được siêu thoát…

Mục Liên làm đúng như lời Phật dạy. Quả nhiên vong mẫu của ông được thoát khỏi kiếp ngạ quỷ mà sinh về cảnh giới lành.

Một mùa Vu Lan nữa lại đến… Thời gian trôi nhanh quá! May mắn là ngày nào con cũng được nhìn thấy mẹ, được nói chuyện với mẹ, được ôm vai mẹ, kiếm cớ nói chuyện lăng nhăng để mẹ mắng mà mẹ không biết….

Con thật may mắn khi còn mẹ!

Thật may mắn cho những ai vẫn còn đang có mẹ!

Gửi phản hồi

Tin tức khác