Sự đa dạng của Văn học nghệ thuật trong việc góp phần xây dựng nhân cách con người Việt Nam.

Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Ngát

( Tham luận Hội thảo “VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VỚI VIỆC XÂY DỰNG NHÂN CÁCH CON NGƯỜI VIỆT NAM”)

Vai trò của VHNT có thực sự to lớn?

Nguyễn Thị Hồng Ngát

Nguyễn Thị Hồng Ngát

Xưa nay, sự hình thành nhân cách con người ta ngay từ tấm bé hầu như đều do sự răn dạy của các bậc sinh thành trong gia đình . Lớn lên đi học thì ảnh hưởng từ các thày cô, bạn bè. Ra đời, ảnh hưởng từ môi trường xã hội. Nếu đứa trẻ nào may mắn được sống trong những môi trường ( gia đình, nhà trường, xã hội ) lành mạnh, ấm áp chắc chắn đứa trẻ đó có một bản tính cũng khác với những đứa không may mắn được như vậy. Nhưng cũng có những trường hợp cá biệt : gia đình tử tế, thành đạt, đứa trẻ lại hư hỏng. Hay có những đứa sinh trong gia đình không mấy thuận lợi nhưng tâm tính lại rất tốt, rất lương thiện, học hành giỏi giang.

Cuộc sống vốn muôn màu muôn vẻ, không có một công thức sẵn hay một lập trình sẵn nào cho con người ta noi theo.

Và cái sự muôn màu muôn vẻ đó của cuộc sống chính là mảnh đất màu mỡ của VHNT. Là nhiệm vụ của VHNT . Với những con mắt tinh tường, sắc sảo của nhà văn, với những trải nghiệm sâu sắc của mình, bằng tài năng và tấm lòng thiết tha với cuộc sống ” yêu quá mà viết – giận quá mà viết” . Các tác phẩm VHNT cũng đã góp phần trong việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam.

Tôi khiêm tốn dùng cụm từ ” cũng đã góp phần ” vì như chúng ta thấy xứ mạng của nhà văn không thể lớn hơn hay quyết định được hơn xứ mạng của gia đình, của nhà trường và xã hội được. Nhà văn là những cá nhân đơn lẻ, làm việc đơn lẻ. Tác phẩm của nhà văn viết ra cũng đơn lẻ như vậy. Nếu khi ra đời nó không được PR, không được các nhà phê bình ngó tới, không được truyền thông rầm rộ hỗ trợ như các tác phẩm thời chiến tranh thì sự tác động của nó vào đời sống cũng chỉ như đá ném ao bèo mà thôi. Nó không thể sánh với công cuộc giáo dục và bộ máy giáo dục khổng lồ, đồ sộ từ cao xuống thấp lại liên tục được Nhà hước rót tiền để ” cải cách giáo dục !!!” như chúng ta thấy trong những năm gần đây .

Dù vậy, cũng không thể phủ nhận những tác phẩm hay, nhất là của giai đoạn chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ VHNT đã có tác động không nhỏ – đã góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng trong công cuộc giải phóng và thống nhất đất nước.

Không phải ngẫu nhiên mà hiện nay VTV cũng như các tổ chức đã làm chương trình ” còn lại mãi với thời gian ” hay ” giai điệu tự hào “, các NXB tập hợp các tác phẩm có giá trị in thành các tuyển tập truyện ngắn hay , những bài thơ hay… . Thời gian trôi đi các tác phẩm VHNT đã được sàng lọc, mỗi khi hát lên ( nhạc ) mỗi khi đọc lên ( thơ ) mỗi khi ngắm nhìn ( hoạ ) và mỗi khi xem ( sân khấu, điện ảnh ) các tác phẩm VHNT thời đó vẫn khiến lòng ta nao nức hơn, muốn sống hơn và thêm yêu cuộc sống hiện tại hơn. Đó là VHNT đã thực hiện đúng, thực hiện tốt được chức năng của mình : động tới tâm can, động tới phàn sâu thẳm của tâm hồn con người.

Nếu nói nó có tác động góp phần thì đây chính là nhiệm vụ và chức năng của nó. Tác phẩm hay tạo nên cảm xúc. Mà cảm xúc thì lại không đo đếm được, sờ nắm được . Sức mạnh của cảm xúc tuy vô hình nhưng lại có tính bẻ ghi như người bẻ ghi đường tàu. Bẻ sang hướng nào con tàu sẽ đi theo hướng đó . Tác phẩm VHNT đem lại cảm xúc lành mạnh, nhân văn, con người sẽ hướng thiện hơn và ngược lại.
Thật tự hào biết bao với những tác phẩm VHNT đem lại được cho con người những cảm xúc đó. Tôi hơi thiên vị khi không ngớt lời ca ngợi các tác phẩm của các tác giả đã ra đời trong thời chiến tranh. Tác phẩm nào ra tác phẩm ấy. Tác giả nào ra tác giả nấy. Gưong mặt nào ra gương mặt nấy không trộn lãn và không nhạt nhoà . Bên văn chương cũng như bên nghệ thuật. Nhưng thời ấy qua rồi. Và bây giờ thì sao ?

Thực trạng của các tác phẩm VHNT hiện nay

Chúng ta đang sống trong những năm tháng ngổn ngang, bộn bề những thông tin đa chiều trong một thế giới phẳng. Các tác phẩm VHNT khi ra đời có thể dễ dàng hơn trước nhưng cũng xô bồ hơn trước. Sự lẫn lộn giữa hay, dở khiến người đọc không biết đâu mà lựa chọn. Ai bây giờ cũng có thể trở thành nhà thơ, nhà văn, trở thành kịch sĩ, đạo diễn… . Các tác phẩm VHNT hiện nay tự mình cũng phải thích nghi , cũng phải ” bơi ” trong thời kinh tế thị trường. Sách phải bán được. Phim phải chiếu được . Do vậy mà những câu chuyện, những nhán vật trong sách cũng như trong phim nó không còn được phản ánh ” thuần “( nhân văn ) như trước. Muốn có cá tính, muốn gây sức hấp dẫn thì tính cách phải khác người. Cái xấu, cái ác dễ thể hiện, dễ cuốn hút người đọc, người xem hơn. Vì thế những cảnh đâm chém giết hiếp đã được tận dụng triệt để, không phải ngẫu nhiên được đưa vào ngập tràn trên trang sách cũng như trên màn ảnh. Nhưng , trớ trêu thay, những thể loại như vậy lại cuốn hút người đọc, người xem, lại có tính lợi nhuận cao. Đơn cử như bộ phim Hương ga – lấy nguyên mẫu từ nhán vật cộm cán trong giới giang hồ Dung Hà thời ông trùm Năm Cam chẳng hạn. Nghệ thuạt hay đến đâu chưa bàn tới nhưng lợi nhuận về kinh tế thì rất cao. Các nhà đầu tư thắng lớn khiến những người làm phim phim tám lý xã hội cũng phải ngại ngùng .

Cạnh đó đề tài đồng tính, đa giới tính cũng được khai thác triệt để nhằm câu khách nhất là các phim được sản xuất ở phía Nam những năm gần đây. Điều này gây không ít phản cảm, có tác động tiêu cực đến môi trường xã hội. Nhiều khi nó khiến cho người xem ngơ ngác tự hỏi ” chẳng nhẽ cuộc sống của chúng ta hôm nay ” quặt quẹo ” về giới tính cũng như về nhân cách như vậy sao ? Nhiều gia đình không ít hoang mang lo sợ cho con em mình bị ảnh hưởng bới đọc và xem những tác phẩm đó. Những phim hài nhảm , nhạt nhẽo và bôi bác cũng không chịu thua kém …nhưng không thể cấm họ sản xuất vì nguồn vốn là của họ, nội dung những phim này cũng không chống lại nhà nước XHCN như luật điện ảnh qui định, nó chỉ can mỗi tội nhạt và không hay. Mà trong tất cả các văn bản hướng dẫn hay quy định chưa có văn bản nào cấm không cho ra đời các tác phẩm như vậy. Vì thế những tác phẩm như thế này sẽ do thị trường định đoạt, lựa chọn cho số phận của nó. Sống lâu hay chết yểu hoàn toàn do tự thân tác phẩm quyết định.. Kinh tế thị trường có cái dở nhưng cũng có cái hay là vậy.

Đại thi hào Nguyễn Du không biết 300 năm sau ai là người còn nhớ đến mình, khóc cho mình ? Ông không biết rằng tác phẩm Kiều của mình sẽ không chỉ sống 300 năm mà còn lâu hơn thế và nó sẽ còn lại mãi, sống mãi với thời gian…Khi tác phẩm đạt đến giá trị chân thiện mỹ , luôn luôn đồng hành với số phận của con người trong mọi thời đại, chạm được đến tất cả những điều ấy thì đó chính là điều mơ ước của những người làm VHNT..

Hiện nay tình trạng những tác phẩm nghiêm túc được người trong giới khen ngợi thì lại ít có người đọc, người xem. Mà người dọc, người xem ít thì tác động xã hội cũng ít. Tác động xã hội ít thì làm sao nó góp phần xây dựng được nhán cách con người Việt Nam ? Điều có lý này lại dường như cũng rất vô lý trong đời sống VHNT hiện nay.

Một vài kiến nghị, giải pháp tháo gỡ

Đảng, Nhà nước đã và đang rất quan tâm đến việc chăm sóc , ưu đãi , tạo điều kiện cho các ý tưởng của các tác giả các loại hình VHNT ra đời. Bằng chứng là Hội VHNT nào từ T.Ư đến địa phương đều có cơ chế đầu từ chiều rộng lẫn chiều sâu, tổ chức các trại sáng tác, các cuộc thi với những giải thưởng cao. Đó là điều vô cùng thuận lợi .

Nhưng khi tác phẩm VHNT ra đời thì sự tuyên truyền, hỗ trợ cho nó để phổ biến rộng rãi thì lại chưa có , nếu có thì cũng rất nhỏ giọt, cầm chừng.

Vì vậy xin được kiến nghị một vài giải pháp sau đây :

1- Nhà nước cần dành một khoản ngân sách ngang với ngân sách đầu tư sáng tác hàng năm cho các Hội VHNT để tăng cường hình thức quảng bá cho các tác phẩm VHNT.

Tổ chức nhiều cuộc bình chọn của các nhà chuyên môn cũng như của báo chí, truyền thông và độc giả, khán giả cho các tác phẩm VNHT hàng quí, hàng năm để lựa chọn được những tác phẩm VHNT thật tốt, có chất lượng, có tác động tích cực đến đời sống tư tưởng và tuyên truyền rộng rãi các tác phẩm đó đến với người đọc, người xem.. Không để sách, tranh, tượng, vở diễn, bộ phim viết xong, làm xong đem cất kho như nhiều năm gần đây và hiện nay.

2- Đưa các tác phẩm đã được lựa chọn, đánh giá này vào chương trình ngoại khóa của các trường học để tăng cường tính phổ biến cũng như giáo dục tình yêu văn chương cho các học sinh, sinh viên.

3- Cần có những hội thảo đánh giá chuyên đề về những tác phẩm tốt được dư luận chú ý ( xin nhấn mạnh là những tác phẩm TỐT). Cần tăng cường theo chiều hướng khen ngợi, động viên những tác phẩm tốt này hơn là tìm những tác phẩm chưa hay, chưa đúng với mong muốn của mình ( có thể là chưa ca ngợi đúng mà nghiêng về phía phê phán ) để lên án, làm giảm nguồn cảm hứng cũng như thui chột ý đồ sáng tác đa dạng của văn nghệ sĩ.

Trên đây là một vài thiển nghĩ của một người làm sáng tác VHNT –xin được đóng góp đôi lời bé nhỏ với hội thảo.

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nôi, 9-2015

Gửi phản hồi

Tin tức khác