Sự thật về Thầy Đường Tăng và chuyến Tây du mạo hiểm của ông

Tác giả: Hàn Văn Hạc

Chúng ta thường chỉ biết đến ông như là một nhà sư đức độ, nhân từ đã cùng với các đệ tử nổi tiếng của mình là Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, Sa Tăng vượt bao gian khó hiểm nguy tới Tây Trúc thỉnh kinh trong bộ tiểu thuyết nổi tiếng có tên là Tây Du Ký của tác giả Ngô Thừa Ân xuất bản vào khoảng năm 1570 dưới thời nhà Minh. (96-664). Ít người biết đến ông như một con người thật lịch sử, đây tài năng cũng như sự thật về chuyến du hành đầy phiêu lưu của ông.

Su thatTranh vẽ chân dung Đường Tam Tạng, Bức tranh có nguồn gốc từ các chùa hang, đục trong vách đá tại tỉnh cam Túc. Trung Quốc.

Đường Tam Tạng hay còn gọi là Đường Tăng, Huyền Trang, chữ Hán là 玄奘; sinh năm 596 và mất năm 664. Huyền Trang tên tục là Trần Huy tại Lạc Châu (洛州), huyện Câu Thị (緱氏縣), tỉnh Hồ Nam, trong một gia đình có truyền thống quan lại. Cha của Huyền Trang là Trần Huệ là một nhà nho vốn treo ấn từ quan ở nhà dạy học..

Huyền Trang là một Cao tăng nổi tiếng, một trong bốn dịch giả lớn nhất mọi thời đại của Trung Quốc, chuyên dịch kinh sách tiếng Phạn ra tiếng Hán. Nhà sư cũng là người sáng lập Pháp tướng tông ( 法相宗) tại Trung Quốc. Sở dĩ ông có biệt danh Tam Tạng (pháp sư) là vì đã không chỉ giỏi về Kinh điển Phật giáo mà còn là người tinh thông cả Tam tạng.

Huyền Trang tới Ấn Độ vào năm 629 theo con đường chạy qua phía bắc sa mạc Taklamakan, và trở thành một trong ba nhà hành hương nổi tiếng nhất của Trung Quốc thời đại đó. Ông nổi danh không chỉ nhờ cuốn tiểu thuyết với cái tên là Tây du ký mà còn nhờ những tập hồi ký lớn của mình đã được dịch ra nhiều thứ tiếng phương Tây, tả về những chuyến đi của mình.Và đặc biệt là những bộ kinh phật đồ sộ đã được ông dịch ra tiếng Hán.

Theo các truyện kí thì từ nhỏ Sư nổi danh thông minh đĩnh ngộ, sớm được thân phụ chỉ dạy về nho học. Huyền Trang xuất gia đi tu tại một ngôi chùa ở Lạc Dương khi ông 13 tuổi. Do học nhiều, biết rộng, Huyền Trang cũng đã nhận ra những điều khó hiểu và đầy những mâu thuẫn trong những bản kinh Phật thường có trong các chùa. Để làm sáng tỏ những vấn đề khó hiểu trong những văn bản kinh sách đó, ông quyết định đi Ấn Độ. Năm 629, mặc dù không được hoàng đế nhà Đường cấp phép du hành, nhưng Huyền Trang vẫn bí mật rời Tràng An và bắt đầu một chuyến viễn du đầy gian khổ và dài nhất từ trước tới giờ.

Trong khoảng thời gian từ năm 635 đến 641, Huyền Trang đi khắp Ấn Độ và các vùng xung quanh, viếng thăm tất cả các thánh địa Phật giáo. Trong những năm hành hương nơi quê hương Đức Phật, ông đã học hỏi, tìm kiếm và nghiên cứu những sách vở kinh điển của Phạt giáo mà hồi đó Trung Quốc chưa biết tới. Ông cũng tìm hiểu rất kỹ về đời sống, tôn giáo và văn hóa của mảnh đất này. Tập kí sự du hành của Huyền Trang có tên là Đại đường tây vực kí, đã để lại cho hậu thế một nguồn tài liệu vô cùng quý báu về địa lí, xã hội và tập quán của miền Trung Á và Ấn Độ trong thế kỉ thứ bảy. Những miêu tả của ông về các vùng đất đó đã đạt tới độ chính xác rất cao mà sau này, nhiều nhà du khảo phương Tây như Ariel Stein đã tham khảo và coi đó như một khuôn mẫu khoa học, hướng dẫn việc tìm hiểu lại những đặc trưng của vùng đất huyền bí này.

Năm 643, ông quyết định trở về nước theo con đường đi qua vùng núi Pamir và con đường phía nam của sa nạc Taklamakan. Năm 645, ông về tới Tràng An, thủ đô của nhà Đường và tại đó ông được Hoàng Đế Đại Đường và đông đảo dân chúng đón chào. Về theo ông là cả một đoàn 20 con ngựa thồ chất đầy kinh sách, những bảo vật và rất nhiều tượng Phạt mà sau này được ông sử dụng nhằm giác ngộ tư tưởng Phật giáo cho những người đương thời và gia tăng đức tin của họ.

Hoàng đế Thái Tông nhà Đường không chỉ tha bổng cho Huyền Trang về tội đi khỏi đất nước không xin phép mà còn cho ông cả một đội ngũ những người cộng sự, gồm cả quan tể tướng và một số đại quan, để tham gia nghiên cứu và truyền bá tư tưởng Phật giáo. Huyền Trang đã chỉ đạo và đồng thời trực tiếp dịch cả một khối lượng kinh sách Phật giáo đồ sộ bằng tiếng Phạn mà ông đã đem về. Hoàng đế nhà Đường cũng cử ông xây dựng và phong ông làm Đại chủ Thiên Tự (chùa Từ Thiện). Chùa khánh thành năm 648 và triều đình cũng tổ chức đại lễ tại triều để đón mừng sự kiện này. Theo đề nghị của Huyền Trang, ngôi chùa Thiên Nga tự nổi tiếng cũng được xây cất vào năm 652 để lưu giữ toàn bộ kinh sách Phật giáo.

Không chỉ là một nhân vật nổi tiếng trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc (ông chịu trách nhiệm khoảng một phần tư tất cả những bản dịch từ tiếng Phạn sang tiếng Trung), Huyền Trang còn là tác giả nhiều cuốn sách, cuốn sách, đặc biệt là những hồi ức mô tả chi tiết về những vùng đất mà ông đã ghé qua – về địa lý nhân văn, về phong tục, cuộc sống về tình trạng các cộng đồng Phật giáo. Sau 16 năm lang bạt tại Trung Á và Ấn Độ, trở về Trung Quốc, Huyền Trang cống hiến đời trọn đời cho Phật giáo, đưa Phật giáo Trung Quốc thời đó trở lại phù hợp với những nguyên lý chân xác được ông học hỏi tại Ấn Độ. Ông cũng trình bày lại một cách chính xác hơn những kinh sách cơ bản và giới thiệu nhiều tài liệu Phật giáo chưa hề có tại Trung Quốc. Song song với công trình dịch thuật khổng lồ – 74 bộ kinh luận trong 19 năm – trong đó có một số kinh với quy mô to lớn, Huyền Trang còn để lại cho người Trung Quốc một bản thảo về siêu thức luận. Đó là tác phẩm Yogacargabhumisastra ( “Quê hương của những thầy Yoga” ). Huyền Trang cũng đào tạo rất nhiều tăng sĩ học tập nghiên cứu Phật giáo. Các công trình nghiên cứu, biên soạn của ông ghi dấu ấn sâu sắc về sự thâm nhập của tư tưởng Phật giáo Ấn Độ vào miền Đông Á.

Cuộc đời huyền thoại cũng như những trang sách hấp dẫn của ông đã tạo nguồn cảm hứng cho rất nhiều sáng tác văn học và lịch sử sau này, mà cuốn Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân là một minh chứng.

Thầy Huyền Trang viên tịch vào trưa ngày mồng 5 tháng 2 năm 664, vì bệnh tật, già yếu và làm việc quá sức. Thi hài ông được an táng tại Bạch Lộc Nguyên. Ngày cử hành tang lễ có đến cả triệu người ở Trường An và các vùng lân cận tề tựu để tiễn ông về nơi Cực Lạc. Sau lễ mai táng, sử Trung Hoa còn chép rằng, có đến ba vạn người đã cất lều cư tang bên phần mộ của ông. Có lẽ xưa nay chưa có vị sư nào được ngưỡng mộ và sùng bái đến vậy

Trong khi rất đông nhà hành hương Phật giáo Trung Quốc như Huyền Trang, Pháp Hiển, Nghĩa Tịnh… đã tây du sang Ấn Độ, thì một số người Ấn Độ khác, lại đi theo chiều ngược lại. Họ đông du đến Trung Quốc để truyền bá Phật giáo. Một trong những vị thầy nổi tiếng đó là Bồ Đề Đạt Ma người đã đến Quảng Đông vào khoảng năm 526. Bức tranh trên thể hiện thầy trò Bồ Đề Đạt Ma đang vượt ngàn dặm “Đông du ký”.

Gửi phản hồi

Tin tức khác