Văn hóa nông nghiệp xứ Thanh – Phần II (Kỳ 1): Xứ An Hoạch Sơn

Tác giả: Hoàng Tuấn Phổ



style="display:block"
data-ad-client="ca-pub-3429097342738591"
data-ad-slot="9366515261"
data-ad-format="auto">

Quá ít tài liệu để tìm hiểu, nghiên cứu làng chạ xứ Thanh trong khoảng 10 thế kỷ sau Công nguyên, thời kỳ lịch sử đầy máu lửa của nhân dân Thanh Hóa cùng nhân dân cả nước đấu tranh chống ách đô hộ tàn bạo các triều đại xâm lược, bành trướng Trung Quốc. Nhiều làng mạc bị xóa sổ hoặc phải di dời, đến một cái tên cũng không còn ghi lại trong sách vở! Một trong số ít làng chạ sống sót đến nay: An Hoạch với tuổi tác gần 2.000 năm!



style="display:block"
data-ad-client="ca-pub-3429097342738591"
data-ad-slot="9366515261"
data-ad-format="auto">


Hòn đá nhô cao trên đỉnh núi Nhồi, dân gian thường gọi là “núi Ba Cọc”, “núi Ba Cô”, các nhà nho ta xưa đặt tên cho nó là “Thiên Trụ Thạch”.

Hòn đá nhô cao trên đỉnh núi Nhồi, dân gian thường gọi là “núi Ba Cọc”, “núi Ba Cô”, các nhà nho ta xưa đặt tên cho nó là “Thiên Trụ Thạch”.

An Hoạch xưa thuộc vùng núi Nhồi. Gần kề núi Nhồi là núi Nấp cũng thuộc xứ An Hoạch Sơn. Di chỉ khảo cổ núi Nấp chứng minh trước An Hoạch từng có một làng cổ người Lạc Việt thuộc văn hóa Đông Sơn thời Hùng Vương tồn tại trong khoảng thời gian từ 600 năm trước Công nguyên đến 300 năm sau Công nguyên. Có lẽ làng chạ núi Nấp đã hy sinh trong cuộc kháng chiến chống giặc Ngô do Bà Triệu lãnh đạo, cùng với làng Sỏi núi Nưa và nhiều làng quê khác. Nhưng “đất có lim, lim lại mọc”, An Hoạch ra đời nối tiếp truyền thống bộ Cửu Chân thời Hùng Vương rực rỡ trống đồng Đông Sơn – sông Mã. Nhà Hán, nhà Ngô tiêu hủy trống đồng Lạc Việt, lại xuất hiện tinh hoa văn hóa khánh đá An Hoạch, đánh lên tiếng kêu vang như chuông đồng. “Khánh đá chuông đồng” là bộ đôi pháp khí âm nhạc thiền gia:

Chùa Bình Lâm khánh đá chuông đồng



style="display:block"
data-ad-client="ca-pub-3429097342738591"
data-ad-slot="9366515261"
data-ad-format="auto">

Muốn chơi trả của cho chồng mà chơi.

(Ca dao cổ huyện Hà Trung)

Khánh đá An Hoạch Sơn (địa danh rất cổ) chẳng những nổi tiếng trong nước mà còn vang vọng tận Trung Hoa. Phạm Ninh Thái thú châu Dự nhà Tấn (265-420) nghe tiếng sai người đến Cửu Chân mua đá và khánh đá An Hoạch chở về nước tàu để phục vụ văn hóa tín ngưỡng.

Đá núi An Hoạch nhiều màu sắc, loại đá xanh ít gân mịn thớ, chế tác dụng cụ bền đẹp. Người thợ An Hoạch nối tiếp truyền thống chế tác đồ đá tài hoa từ hàng chục vạn năm trước. Làng Chạ An Hoạch bấy giờ chưa thể sống bằng nghề đục đá. Nguồn sống chính của họ là nông nghiệp, bao gồm các ngành nghề phụ: Chăn nuôi, đánh cá, làm đồ thủ công… Các tên nôm làng Nhồi, núi Nhồi, cũng như làng Nấp, núi Nấp hay các tục danh khác, không đủ căn cứ để suy diễn: Nhồi tức Lồi, một làng gốc Chiêm Thành.

Cuộc Nam chinh năm 1471 hay trước hoặc sau đó, triều đình có thể đưa về núi Nhồi một số tù binh Chiêm để lao động, nhưng không thấy dấu ấn Chăm trên các đồ đá, ngoại trừ một số công cụ do giao lưu, giao thoa văn hóa Việt – Chàm trong quá trình lịch sử. Núi Nhồi còn gọi núi Nhuệ, núi Khế… Thực ra, núi Nhồi, làng Nhồi không phải là làng An Hoạch mà thuộc xã An Hoạch. Xã An Hoạch thời Lê gồm nhiều thôn, tương đương vùng đất hai xã Đông Hưng và Đông Tân ngày nay. Thời Nguyễn, xã An Hoạch có các làng: Thôn Thượng, thôn Nhuệ, thôn Quảng Nạp (Nấp), thôn Đống, thôn Thọ Vực (Vức).



style="display:block"
data-ad-client="ca-pub-3429097342738591"
data-ad-slot="9366515261"
data-ad-format="auto">

Thuở xa xưa, chưa chia ra thôn, xã, hương, giáp… làng chạ An Hoạch thường gọi là một xứ, xứ An Hoạch có nghề đục đá. Thời Lê, nhiều làng xã có người làm thợ đá. Đến thời Nguyễn, do nhu cầu đồ đá phát triển, thợ đá dần dần chuyên nghiệp hóa, tập trung về thôn Thượng (Nhồi Thượng), nồi tên nôm núi Nhồi, làng Nhồi trở thành “thương hiệu” nổi danh trong lĩnh vực tiêu dùng và hàng hóa công nghiệp. Thậm chí, một tác giả quá cố, ông Ngô Quốc Tĩnh nguyên cán bộ Ty Văn hóa – Thông tin Thanh Hóa, sáng tác câu ca dao (rất dở!).

Vọng phu cảnh đẹp núi Nhồi

Có nàng chinh phụ phương trời đăm đăm(1).

Đã bị không ít người lầm tưởng là ca dao hoặc thơ dân gian xưa ca ngợi danh lam thắng cảnh núi Nhồi! Nhân đây xin được đính chính và nên chăng chúng ta cần khôi phục lại tên An Hoạch một danh sơn Thanh Hóa mang nhiều dấu ấn lịch sử!



style="display:block"
data-ad-client="ca-pub-3429097342738591"
data-ad-slot="9366515261"
data-ad-format="auto">

Đạo Phật thế kỷ II sau Công nguyên chưa thực sự du nhập Thanh Hóa, theo ý kiến các nhà nghiên cứu phật học. Có lẽ khoảng thế kỷ IV mới xuất hiện một số chùa thờ phật tại làng chạ trung tâm lớn đông dân cư, nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng quy mô, phần nhiều chỉ là mái lá, cột gỗ hay lộ thiên bệ thờ bằng đá. Những đồ thờ, linh vật nhiều nơi hiện còn cho thấy bàn tay nghệ thuật và con mắt nhà nghề của thợ đá An Hoạch.

Đồ pháp khí quan trọng của nhà chùa là chuông đồng khánh đá. Rất may, chùa Báo Ân núi An Hoạch thời Lý còn bia đá, từ lâu đã mất khánh đá chuông đồng. Một ngôi chùa nhỏ trong động núi An Hoạch hiện thấy chiếc chuông đồng cổ treo lơ lửng trên mái đá, khánh đá hẳn do tân tạo? Đạo Phật dùng tiếng chuông, tiếng khánh để cảnh tỉnh trần gian, kêu gợi, nhắc nhở mọi người hồi tâm hướng thiện.

Đời Tự Đức (1848 – 1883) Bố chánh Trương Quang Lâm thăm chùa La Hán An Hoạch, vịnh thơ:

Thái khánh hà niên truyền cố sự

Minh chung bán dạ độ trường phong

Dịch:



style="display:block"
data-ad-client="ca-pub-3429097342738591"
data-ad-slot="9366515261"
data-ad-format="auto">

Khánh gõ bao năm truyền chuyện cũ

Chuông kêu một tiếng vọng đêm trường

Tác giả không bày tỏ tấm lòng một tín đồ nhà phật. Đây là tâm sự một người dân lúc đất nước đang bị nạn ngoại xâm Tây Dương, de đọa, ngụ ý lời kêu gọi mọi người hãy cảnh tỉnh, đừng say đắm giấc mộng đêm trường!

Chùa chiền thiếu chuông, không thể thiếu khánh. Ngoài ra, bia đá, bia ký cũng rất quan trọng. Nó là chứng cớ, chứng tích văn hóa nghệ thuật lịch sử ngôi chùa, nhiều bia ký ghi chép cả những điều liên quan tới lịch sử dân tộc. Đến nay, cả miền Bắc chỉ có bia Trường Xuân (gần An Hoạch) đã phát hiện, được xem là cổ nhất. Nội dung bia mờ hết chữ, chỉ còn đọc được tên bia khắc chữ triện rất đẹp và niên đại dựng bia đời Tùy Đại Nghiệp Trung Quốc, khoảng từ 581 đến 618, tức cuối thế kỷ VI đầu thế kỷ VII. Các bia Hương Nghiêm, Báo Ân, Linh Xứng, Sùng Nghiêm… đều rất giá trị về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật… nổi tiếng thời Lý, cùng chất liệu đá núi An Hoạch và phong cách điêu khắc An Hoạch.

Di sản văn hóa An Hoạch chỉ nói riêng loại đồ đá phục vụ kiến trúc và tín ngưỡng, hiện nay trên đất Thanh Hóa vẫn được lưu truyền khắp mọi nơi, nhiều vô kể về số lượng, mặc dù đã bị hư hỏng, mất mát, vùi lấp còn nhiều hơn.

Qua di sản văn hóa An Hoạch, chúng ta thấy lịch sử phát triển nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc nói chung, chất liệu đá nói riêng, bắt đầu được phục hưng cùng sự phục hưng đất nước từ nhà Lê Trung Hưng thắng lợi trở lại Thăng Long thống nhất giang sơn, sau nhiều năm tháng máu lửa trên quê hương Thanh Hóa.

Một trong những đồ đá dân dụng phổ biến ở nông thôn là cối đá. Cối đá lớn giã gạo, cối đá vừa giã giò, cối đá nhỏ giã cua… Rất nhiều loại, cỡ cối đá đáp ứng đủ yêu cầu công việc của nhân dân nông thôn.

Tục lệ thời Hùng Vương, khi trong nhà có người chết, gia chủ “giã cối” để mọi người biết đến “cứu”. Từ “cứu” nói đây là cứu giúp, tức giúp đỡ việc làm ma. Cối bấy giờ là cối gỗ, hoặc đá. Cối gỗ không nặng bằng cối đá, nhưng chất liệu gỗ phải lòng sâu, thành mỏng mới kêu to lại dễ vỡ vì giã mạnh, chất liệu đá tuy nặng mà bền, tha hồ giã, nếu giã cối không tiếng kêu vang khắp xóm.



style="display:block"
data-ad-client="ca-pub-3429097342738591"
data-ad-slot="9366515261"
data-ad-format="auto">

Hình tượng con thuyền lễ hội trên mặt trống đồng có hình ảnh hai người đang chung một chày giã cối. Đây là cách thể hiện tín ngưỡng phồn thực của cư dân trồng lúa đang thực hiện cuộc giao phối mong cầu mùa màng tươi tốt vạn vật sinh sôi… Tiếng nhạc Khua luống, tiếng hò giã gạo, tiếng hát giao duyên đều có nguồn gốc từ tín ngưỡng phồn thực văn hóa nông nghiệp cư dân lúa nước.

Năm 1471, Hoàng thân Lê Tấn Triều (con trai vua Lê Thái Tông) có công trong cuộc Nam chinh, được phong tước Triệu quốc công vua Lê Thánh Tông sai ở lại Quảng Nam trấn thủ châu Ngũ Hành. Ông tổ chức khai hoang, vỡ hóa, lập làng, tổng số ruộng đất hơn 6.000 mẫu. Lê Tấn Triều thấy chất liệu đá Ngũ Hành Sơn rất đặc biệt, mềm mà cứng, thớ thịt mịn mà dai, lại nhiều màu sắc, chế tạo các loại đồ đá đều bền đẹp, đem một số thợ đá An Hoạch Thanh Hoa vào lập thành xưởng sản xuất. Nghề đá Ngũ Hành Sơn truyền đến thế kỷ XX thành một làng nghề đá chuyên sản xuất đồ đá mỹ nghệ nổi tiếng, trong và ngoài nước.

————–

(1). Hòn đá nhô cao trên đỉnh núi Nhồi, dân gian thường gọi là “núi Ba Cọc”, “núi Ba Cô” các nhà nho ta xưa đặt tên cho nó là “Thiên Trụ Thạch”: Hòn đá núi chống đỡ trời xanh và đã có một số bài thơ ngâm vịnh. Tỉnh ta không có núi Vọng Phu hay hòn Vọng Phu như không ít người viết bài đưa lên báo chí.



style="display:block"
data-ad-client="ca-pub-3429097342738591"
data-ad-slot="9366515261"
data-ad-format="auto">

Gửi phản hồi

Nguồn bài viết: Vanhoadoisong.vn

Tin tức khác