Vĩnh Phúc: Bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá tín ngưỡng, lễ hội truyền thống (Vĩnh Tường)

Tác giả: Lê Văn Thắng. Phó trưởng Phòng VH&TT Vĩnh Tường

Lễ hội là một loại hình sinh hoạt văn hoá cộng đồng phổ biến và đậm đà bản sắc dân tộc, là tài sản vô giá trong kho tàng di sản văn hoá phi vật thể của dân tộc. Lễ hội phản ánh sinh hoạt, những khát vọng cùng tài năng của nhân dân về nhiều mặt của đời sống, đồng thời thông qua lễ hội, trí tuệ, đạo lý, tình cảm, thẩm mỹ của nhân dân được toả sáng.

Picture1

Những năm gần đây, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về dân chủ hoá đời sống xã hội, khôi phục, giữ gìn, phát huy những giá trị bản sắc văn hoá dân tộc, các hình thức tín ngưỡng dân gian ở Vĩnh Tường đang phát triển khá mạnh mẽ và sôi động. Các hình thức tín ngưỡng được thể hiện qua lễ hội đã tổ chức khắp nơi, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia. Điều đó chứng tỏ tín ngưỡng dân gian đã ăn sâu, bám chắc vào cộng đồng dân cư. Lễ hội phản ánh những nét đặc trưng văn hoá dân tộc, trong đó thấm đượm truyền thống đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, nhắc nhở con người “tu nhân tích đức”, “ở hiền gặp lành”, làm điều phúc đức, tránh những điều ác, tăng cường ý thức cộng đồng, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống, tri ân công đức các bậc tiền nhân, anh hùng dân tộc.
Vĩnh Tường là vùng đất cổ, có di chỉ Lũng Hoà, Nghĩa Lập, Ma Cả, Gò Mát thuộc thời kỳ văn hoá Phùng Nguyên. Hiện nay, còn lưu giữ được 239 di tích lịch sử trong đó, có 18 di tích xếp hạng cấp Quốc gia, 49 di tích xếp hạng cấp tỉnh. Lễ hội truyền thống ở Vĩnh Tường chủ yếu gắn với tín ngưỡng thờ Vua Hùng và các con cháu, tướng lĩnh thời nhà Hùng, do đó phong phú về số lượng, đa dạng về nội dung, hình thức biểu đạt và gắn đời sống sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt của cư dân, được phân bố rộng khắp trên địa bàn huyện, trong đó, tập trung ở Thổ Tang, Tứ Trưng, Lũng Hoà, Yên Lập, Bồ Sao, Đại Đồng, An Tường, Vĩnh Ninh, Vĩnh Thịnh, Tuân Chính, Tam Phúc…Những lễ hội loại A gồm: Lễ hội làng Duy Bình (Vĩnh Ninh); Lễ hội làng Hoàng Xá (Vĩnh Thịnh); Lễ hội làng Thượng Trưng (Thượng Trưng); Lễ hội làng Phù Chính (Tuân Chính); Lễ hội làng Kiên Cương (Ngũ Kiên); Lễ hội làng Vân Giang (Lý Nhân); Lễ hội làng Thượng (Phú Đa); Lễ hội làng Hoàng Thượng (Kim Xá); Lễ hội 4 làng Trưng (Tứ Trưng); Lễ hội đền Đuông (Bồ Sao); Lễ hội làng Thổ Tang; Lễ hội làng Bàn Mạch (Phú Thịnh); Lễ hội làng Yên Lỗ (Yên Bình); Lễ hội làng Phủ Yên (Yên Lập); Lễ hội làng Lũng Ngoại, làng Hòa Loan (Lũng Hoà); Lễ hội làng Bích Đại, Đồng Vệ (Đại Đồng); Lễ hội làng Sơn Tang (Vĩnh Sơn); Lễ hội làng Phong Doanh (Bình Dương); Lễ hội làng Lan Điền; Lễ hội làng Cam Giá, làng Bích Chu (An Tường).

Những Lễ hội loại B gồm: Lễ hội làng Khách Nhi, làng An Lão (Vĩnh Thịnh); Lễ hội làng Vân Ổ, làng Xuân Húc (Vân Xuân); Lễ hội làng Tuân Lộ (Tuân Chính); Lễ hội làng Hậu Lộc (Vĩnh Ninh); Lễ hội làng Bàn Mạch (Lý Nhân); Lễ hội làng Hoàng Xá hạ, làng Hoàng Xá trung, đình cẩm Chiềm (Kim Xá); Lễ hội làng Phương Viên (Thổ Tang); Lễ hội làng Bàn Giang (Phú Thịnh); Lễ hội làng Thượng Lạp (Tân Tiến); Lễ hội làng Yên Trù (Yên Bình); Lễ hội làng Diệm Xuân (Việt Xuân); Lễ hội làng Bến Cả (Yên Lập); Lễ hội làng Đông Viên (Bình Dương); Lễ hội làng Vĩnh Lại (Chấn Hưng).
Những Lễ hội loại C gồm: Lễ hội làng Tân An, Yên Thọ (Ngũ Kiên); Làng Yên Định (Phú Đa); Làng Phú Thứ, làng Phú Hạnh (Thượng Trưng); Lễ hội làng Môn Trì, làng Hệ (Vĩnh Thịnh); Lễ hội làng Đông, làng Táo, làng Quảng Cư (Tuân Chính); Lễ hội làng Xuân Chiểu, làng Kim Xa (Vĩnh Ninh); Lễ hội làng Vân Hà (Lý Nhân); Lễ hội làng Đan Thượng, làng Yên Xuyên (Phú Thịnh); Lễ hội làng Lực Điền (Yên Bình); Lễ hội làng Phượng Lâu (Việt Xuân); Lễ hội làng Hội Chữ (Yên Lập); Lễ hội làng Cao Xá, làng Đại Định, làng Bình Trù (Cao Đại); Lễ hội làng Dẫn Tự, làng Hoà Lạc, làng Đồng Phú (Tân Cương); Lễ hội làng Phúc Lập, làng Quảng Cư, làng Phù Cốc (Tam Phúc); Lễ hội làng Kim Đê (An Tường); Lễ hội làng Yên Nhiên, làng Yên Trình, làng Xuân Lai, làng Vũ Di (Vũ Di); Lễ hội làng Sơn Kiệu, làng Yên Nội (Chấn Hưng); Lễ hội làng Lạc Trung (Bình Dương).
Thực hiện Nghị quyết Trung ương V (khoá VIII) về “xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, những năm gần đây các di tích lịch sử văn hoá, các lễ hội truyền thống đã được các cấp chính quyền, các ngành, các tổ chức, cá nhân…đầu tư, công đức tu sửa, tôn tạo, phục dựng…đáp ứng sinh hoạt tín ngưỡng, lễ hội lành mạnh của nhân dân. Lễ hội ở Vĩnh Tường đều có nét đặc trưng độc đáo là gắn chặt với cộng đồng dân cư mang tính cội nguồn sâu đậm, phản ánh các sự kiện lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, có ý nghĩa rất lớn trong việc giáo dục truyền thống cho các thế hệ con cháu. Hàng năm, cứ vào mùa xuân các lễ hội được tổ chức trang trọng và thành kính với các hoạt động văn hoá lành mạnh, phong phú, hấp dẫn, quy tụ những sinh hoạt văn hoá dân gian đặc sắc của từng thôn, làng, kết hợp với văn hoá, văn minh hiện đại, đáp ứng yêu cầu giáo dục thẩm mỹ cho nhân dân. Khẳng định ý nghĩa là ngày hội lớn của toàn dân, giáo dục lòng yêu nước, tự hào dân tộc, tri ân sâu sắc các bậc tiền nhân đã có công dựng nước, giữ nước và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc.

Các lễ hội được tổ chức đều có hai phần lễ và hội: Phần lễ đã duy trì và bảo tồn theo nghi thức truyền thống, đó là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của người dân với thần linh nói chung, thần thành hoàng nói riêng, phản ánh những ước mơ, nguyện vọng chính đáng của con người trong cuộc sống, đảm bảo ý nghĩa lịch sử, văn hoá, đồng thời phù hợp với thuần phong mỹ tục của dân tộc; phần hội là những trò chơi dân gian đặc sắc mang tính thượng võ như: vật dân tộc, kéo co, hú đáo, bơi chải, đánh cờ, múa đao, đánh gậy…kết hợp với các hoạt động văn hoá, văn nghệ, TDTT hiện đại để nhân dân vui chơi tự do, thoải mái không bị ràng buộc bởi nghi lễ tôn giáo, đẳng cấp hay tuổi tác (nội dung và hình thức tổ chức phần hội đều đảm bảo tính hấp dẫn, đáp ứng nhu cầu giải trí của nhân dân). Những lễ hội lớn và nhiều lễ hội quy mô làng xã được nâng tầm hơn so với trước đây, phù hợp với điều kiện kinh tế của từng địa phương, các lễ hội được tổ chức theo đúng quy định của Nhà nước và phát huy được tiềm năng, vai trò chủ thể, năng lực sáng tạo, sự đóng góp của nhân dân, điển hình như: Lễ hội đền Ngự Dội (xã Vĩnh Ninh), lễ hội đình Cam Giá, Kim Đê, Bích Chu, Thủ Độ (xã An Tường), lễ hội đền Đuông (xã Bồ Sao), lễ hội đình Thổ Tang (thị trấn Thổ Tang), lễ hội đền Đức Ông (thị trấn Tứ Trưng), lễ hội đền Ba làng (xã Yên Lập), lễ hội đền Bàn Giang (xã Phú Thịnh), lễ hội đình Thượng Trưng (xã Thượng Trưng), lễ hội đình Bích Đại, Đồng Vệ (xã Đại Đồng)….những lễ hội mang đậm nét văn hoá dân gian của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước với tín ngưỡng gắn biểu tượng con bò và tục sát sinh “vật thiêng” để hiến tế thần linh cầu cho “mưa thuận, gió hoà”, cây cối xanh tươi, mùa màng bội thu… tiêu biểu như: Hội trình diễn Trâu rơm- Bò rạ, Tứ dân chi nghiệp và Hội tung con làng Bích Đại, Đồng Vệ (xã Đại Đồng); hội cướp bông, cướp gươm đền Đuông (xã Bồ Sao)…và tương truyền có hội vật Bò trước cửa đình ở (xã Kinh Xá), hội làng Hoàng Xá (xã Vĩnh Thịnh) còn gọi là “vật ông đô” là một nghi thức sát sinh hiến tế, sau đó tổ chức hội xuống đồng;…Người tham gia lễ hội là để cầu cho mình sức khoẻ và sự may mắn trong cuộc sống trong dịp đầu xuân và cả năm.

Trải qua thời gian, dưới tác động của chiến tranh và điều kiện tự nhiên, nhiều lễ hội ở Vĩnh Tường đã bị mai một, thất truyền. Để bảo tồn, phát huy, trao truyền các giá trị văn hoá truyền thống huyện Vĩnh Tường đã phối hợp với Ban quản lý di tích tỉnh Vĩnh Phúc tổ chức rà soát, thống kê hiện trạng các loại hình di sản văn hoá phi vật thể tại 29/29 xã, thị trấn, lập hồ sơ khoa học và đề nghị với các cơ quan chuyên ngành phục dựng, phát huy những giá trị văn hoá tiêu biểu. Thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến các văn bản của Nhà nước về quản lý và tổ chức lễ hội nhằm nâng cao sự hiểu biết và ý thức trách nhiệm của nhân dân cùng với các cấp chính quyền tổ chức tốt lễ hội. Đồng thời để người dân hiểu rõ giá trị của các di tích lịch sử văn hoá, của các lễ hội, công đức các danh nhân, anh hùng dân tộc, bảo vệ nơi thờ tự, bảo vệ cảnh quan môi trường, thực hiện nếp sống văn minh trong tổ chức lễ hội. Nhiều địa phương đã lồng ghép việc tổ chức lễ hội vào các nội dung của phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, vào hương ước, quy ước thôn làng, coi đó là nhiệm vụ quan trọng của các địa phương. Lễ hội truyền thống là cầu nối giữa quá khứ với hiện tại, là hình thức giáo dục, trao truyền cho các thế hệ hiểu được công lao to lớn của tổ tiên, biết ơn sâu sắc công đức của các bậc tiền bối. Việc tổ chức lễ hội truyền thống còn góp phần tích cực trong giao lưu, hoà nhập với văn hoá các vùng miền, tạo nền tảng vững chắc cho việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống theo đúng nghi lễ dân gian đã được cha ông gìn giữ trao truyền.
Tuy nhiên, với nhiều loại hình và phương thức tổ chức đa dạng lễ hội đã và đang đặt ra không ít khó khăn, bất cập trong công tác quản lý và tổ chức. Không ít những hiện tượng thiếu lành mạnh xuất hiện tại một số lễ hội như tổ chức chưa đúng với quy định, gây mất an toàn giao thông, trật tự an toàn xã hội…vô cùng phản cảm và thiếu văn hóa; việc người dân đi lễ có người nhét tiền vào tay Phật; Thánh; cài tiền, xoa tiền lên thân tượng; vứt tiền bừa bãi trên ban thờ; xuống ao, xuống giếng, gốc cây…làm ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục, gây lãng phí, phản cảm, phi văn hóa, phản tín ngưỡng và đầy xúc phạm. Hay việc đổi tiền chẵn lấy tiền lẻ để đi lễ đầu năm cũng là quan điểm rất sai lầm, công đức là việc phát tâm từ bản thân chúng ta không phân biệt nhiều hay ít. Điều đáng lo ngại nhất là sự phai mờ, xói mòn những giá trị, bản sắc của lễ hội truyền thống. Ở đây thách thức cơ bản là sự chuyển đổi các giá trị, làm giảm giá trị văn hoá truyền thống và đạo đức. Sự thiếu hụt vốn tri thức về văn hóa ứng xử của con người khi đến với lễ hội. Một số người đến với lễ hội dường như chỉ để là cầu tài, cầu lộc nhiều hơn là việc đi lễ hội để biết những ý nghĩa văn hóa sâu xa và hướng thiện mà ông cha đã thầm gửi gắm trong đó.
Tôi rất tâm đắc câu nói của Thượng tọa Thích Đức Thiện- Chánh Văn phòng 1, Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam “Nói cho cùng, đi lễ là đến với giáo lý của đức Phật, tâm hướng về Phật, thế là đủ. Tâm xuất thì Phật biết. Bởi thế, chúng ta không cần đặt tiền trước mặt đức Phật thì các ngài mới biết. Đã là người phật tử chân chính, chúng ta phải loại bỏ quan niệm sai lầm rằng cứ phải đặt tiền lên ban thờ, thì Phật mới độ. Tôi mong rằng các phật tử, khách hành hương, bà con nhân dân không nên tiếp tục để sai lầm này tiếp diễn…”.
Rất thanh tịnh và nghiêm trang, người dân khi đến đền, chùa, nếu muốn công đức, thì nên tế nhị bỏ vào hòm đóng góp nhang khói, như vậy rất nhẹ nhàng và tinh tế. Tuyệt nhiên không nên “nhét” tiền vào bàn tay đức Phật như ta vẫn thấy. Không cho phép mở dịch vụ đổi tiền lẻ trước cổng đền, chùa rất phản cảm. Chúng ta có thiện tâm thì sao không bỏ hòm công đức một lần, khỏi đổi tiền, vừa tốn kém thêm lại vừa vi phạm luật.
Để lễ hội phản ánh đúng bản chất tốt đẹp truyền thống, thì chính quyền địa phương cần đổi mới phương thức tổ chức, lập kế hoạch chi tiết cho từng lễ hội, lấy yếu tố truyền tải bản sắc văn hóa riêng biệt của từng vùng, thực hành trung thực, sinh động phong tục, tập quán cổ truyền nhằm gây ấn tượng cho những người cùng tham gia lễ hội. Cần chú trọng công tác tuyên truyền các giá trị di tích lịch sử văn hoá và tôn vinh công trạng của danh nhân được thờ để nhân dân hiểu rõ giá trị của di tích cũng như quy định của pháp luật, kịp thời uốn nắn những biểu hiện lệch lạc, bài trừ các hủ tục, mê tín dị đoan, thực hiện tốt nếp sống văn hoá trong lễ hội, không để nảy sinh các vấn đề tiêu cực, làm mất đi bản sắc văn hoá và ý nghĩa tốt đẹp của lễ hội…làm cho lễ hội ngày càng văn minh, thực sự trở thành ngày hội của toàn dân, góp phần tích cực trong việc phát triển kinh tế- văn hóa xã hội của các địa phương.

Gửi phản hồi

Tin tức khác