Vĩnh Phúc: Vĩnh Tường sau hơn 3 năm thực hiện kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể

Tác giả: Lê Văn Thắng - Phòng Văn hóa và Thông tin Vĩnh Tường

Vĩnh Tường là miền đất gốc của đỉnh châu thổ sông Hồng (Phong châu), là điểm khởi đầu hình thành nên tam giác châu đồng bằng Bắc Bộ, nơi sản sinh ra huyền thoại về con Hạc trắng “Bạch Hạc” hội tụ trên mặt trống đồng của nền văn hóa Đông Sơn, hình thành nên quốc gia Văn Lang của các vua Hùng.

Vĩnh Tường phía Tây Bắc giáp huyện Lập Thạch, thành phố Việt Trì (tỉnh Phú Thọ) phía Đông Bắc giáp huyện Tam Dương, phía Đông giáp huyện Yên Lạc, phía Tây Nam giáp thị xã Sơn Tây. Tiếp giáp với ba trung tâm chính trị – kinh tế – văn hoá – xã hội lớn trong vùng là Thành phố Vĩnh Yên (Vĩnh Phúc), Thành phố Việt Trì (Phú Thọ) và Thị xã Sơn Tây (Hà Nội). Dân số hơn 20 vạn người. Đơn vị hành chính có 26 xã và 3 thị trấn, 189 thôn, tổ dân phố (được hình thành từ 104 làng cổ).

clip_image002

Lễ hội đình Thổ Tang.

Vĩnh Tường là mảnh đất giàu truyền thống yêu nước và cách mạng, có thể kể đến như Lê Thị Ngọc Trinh, Ả Lã, Song Nga thời Hai Bà Trưng; Đội Cấn, Nguyễn Thái Học; Lê Xoay thời kỳ chống Pháp; Nguyễn Viết Xuân thời chống Mỹ…đã làm rạng danh quê hương Vĩnh Tường. Năm 1917 ông Trịnh Văn Cấn (Vũ Di – Vĩnh Tường) lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên đã để lại dấu ấn sâu đậm về tinh thần cách mạng về con người và vùng quê Vĩnh Tường. Liệt sỹ Nguyễn Thái Học (Thổ Tang- Vĩnh Tường), Chủ tịch Việt Nam Quốc dân Đảng yêu nước đã đi vào lịch sử với tên tuổi và câu nói “không thành công cũng thành nhân” còn sống mãi với non sông Việt Nam.

Thực hiện Thông tư số 04/2010/TT-BVHTTDL ngày 30/6/2010 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định việc kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể và lập hồ sơ khoa học di sản văn hoá phi vật thể để đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; Kế hoạch của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc hướng dẫn triển khai công tác kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể. Từ năm 2011 đến nay, UBND huyện đã chỉ đạo thực hiện kiểm kê, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn huyện.

Được sự quan tâm của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Huyện ủy, UBND huyện đã tập trung chỉ đạo giao Phòng Văn hóa và Thông tin chủ trì, phối hợp tốt với các ngành, địa phương thực hiện kiểm kê di sản văn hóa vật thể và phi vật thể trên địa bàn 29/29 xã, thị trấn. Đây là nhiệm vụ quan trọng trong tiến trình thực hiện nội dung bảo tồn các giá trị văn hóa của dân tộc trên địa bàn huyện theo tinh thần Nghị quyết Trung ương V (khóa VIII) về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”.

Mục tiêu chung của việc kiểm kê là để làm cơ sở đề ra biện pháp bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể. Công tác kiểm kê là nhận diện; xác định giá trị, sức sống của di sản để đề xuất biện pháp bảo vệ. Yêu cầu chung của việc kiểm kê di sản trên địa bàn huyện là nhằm đề ra biện pháp phù hợp để bảo vệ các giá trị của di sản hiện còn và lập hồ sơ khoa học từng bước phục dựng các loại hình di sản văn hóa phi vật thể đã bị mai một hoặc đang có nguy cơ mai một.

Nói đến Vĩnh Tường là nói đến truyền thống lao động cần cù, thông minh, sáng tạo, truyền thống đoàn kết, đấu tranh bất khuất, kiên cường từ rất lâu đời. Những đặc trưng tốt đẹp ấy thể hiện rõ nét trong các loại hình văn hoá dân gian phổ biến ở các hội hè, đình đám của làng quê. Lễ hội dân gian cổ truyền ở Vĩnh Tường gắn kết với sự xuất hiện tâm linh cộng đồng nông thôn, đã để lại nhiều dấu tích trong các di chỉ khảo cổ trên địa bàn. Bên cạnh những hoạt động vật chất cần cù, một nắng hai sương để tạo ra sản phẩm nuôi sống con người.

Người dân Vĩnh Tường còn có đời sống tinh thần rất phong phú. Trong gian khổ khó khăn, họ luôn lạc quan yêu đời, tin yêu ở cuộc sống. Những đặc trưng tốt đẹp ấy thể hiện rõ nét trong các loại hình văn hoá dân gian phổ biến ở các hội hè. Trong các làng xã còn bảo tồn và lưu truyền các làn điệu dân ca đồng bằng Bắc bộ như hát chèo, hát văn, ca trù, hát xoan, hát ghẹo, hát trống quân, hò vè…

Vĩnh Tường là huyện có một kho tàng văn hoá rất phong phú, độc đáo, góp phần tạo nên sắc thái văn hóa đa dạng chung của tỉnh Vĩnh Phúc, nhiều nét văn hoá cổ truyền, độc đáo, đa dạng và nổi bật hơn cả là những dấu ấn cội nguồn được biểu hiện đậm nét trên tất cả các hình thái văn hoá dân gian truyền thống, được hình thành qua hàng nghìn năm tích tụ, trao truyền cho tới ngày nay, đó là những lễ hội đặc sắc, ẩm thực, nghệ thuật dân gian, luật tục, tập quán, kỵ hèm có thể thành văn hay bất thành văn. Đặc biệt đó là những lễ hội truyền thống (ở Vĩnh Ninh, Tứ Trưng, Vĩnh Thịnh, Đại đồng, Yên Lập, An Tường, Bồ Sao,…)

Gắn liền với những sự tích, chiến công, công trạng hoặc ôn lại một phần thân thế, hành trạng của vị thần được tôn thờ làm thần, thành hoàng làng trên cơ sở nhân cách hoá, thần thánh hoá. Các trò diễn dân gian (như trâu rơm bò rạ, cướp kén, cướp gươm, cướp bông, bơi thuyền, kéo song…), làng nghề rèn ở Lý Nhân, nghề Mộc Bích Chu, nghề nuôi rắn ở Vĩnh Sơn, hay những món ăn độc đáo như: Đậu rùa Tuân Chính, thịt chó Ngũ Kiên, rượu Vân Giang…Tất cả những điều đó tạo cho Vĩnh Tường mang một nét văn hoá riêng, rất đặc sắc.

Tuy nhiên hiện nay do quá trình phát triển chưa đồng bộ, sự tác động trực tiếp của kinh tế thị trường, sự phát triển giao thoa của nhiều loại hình nghệ thuật khác làm cho một số địa phương trong huyện đã có dấu hiệu để cho di sản văn hoá phi vật thể của dân tộc bị chìm lắng, mai một. Một số lễ hội truyền thống mang tính cộng đồng ít được quan tâm như các lễ nghi liên quan đến sản xuất nông nghiệp; các trò diễn dân gian (như trâu rơm bò rạ, cướp kén, cướp gươm, cướp bông, bơi thuyền, kéo song…)

Tiếng nói, chữ viết: Ở Việt Nam nói chung và Vĩnh Tường nói riêng, về chữ viết, trong một thời gian dài dưới thời Bắc thuộc, chữ Hán (của Trung Quốc) được sử dụng trong giao dịch, giáo dục, trong các văn bản của nhà nước phong kiến. Việc sử dụng chữ Hán còn kéo dài đến đầu thế kỷ XX. Tuy nhiên, đến thế kỷ thứ X, song song với việc sử dụng chữ Hán, người Việt Nam đã sáng tạo ra chữ Nôm (dùng đặc tính tượng hình của chữ Hán để ký âm tiếng Việt). Sự xuất hiện của chữ Nôm đánh dấu sự trưởng thành trong ý thức dân tộc của người Việt và giúp cho nền văn học Việt Nam phát triển rực rỡ. Đến thế kỷ XVI, chữ Quốc ngữ xuất hiện sau đó thay thế cả chữ Hán và chữ Nôm.

Ngữ văn dân gian: Ở Vĩnh Tường, ngữ văn dân gian cũng khá dồi dào về số lượng, đa dạng về loại hình và phong phú về nội dung bao gồm các thể loại của văn nghệ dân gian như: Tục ngữ, ca dao, vè, các làn điệu dân ca, các hình thức diễn xướng, hát chèo, hát xoan, các truyền thuyết, truyện kể về vùng đất, con người, về các nhân vật cổ tích và lịch sử, về các đề tài dân gian, các sáng tác khuyết danh…chủ yếu phản ánh các hoạt động của lao động sản xuất, chiến đấu, đời sống tinh thần của cư dân nông nghiệp, các kinh nghiệm sản xuất được đúc truyền qua các thế hệ.

Hiện nay, ở Vĩnh Tường còn lưu giữ được một số làn điệu dân ca, một số hình thức diễn xướng dân gian kết tinh từ quá trình lao động sáng tạo hàng ngàn năm của cư dân địa phương. Đó là các điệu hát chèo, hò, vè, hát xoan, hát cửa đình, các hình thức trình diễn dân gian. Ngoài ra, còn có truyền thống về diễn tấu cổ nhạc trong các dịp hội hè đình đám, tang ma, hiếu hỉ truyền thống. Vậy nên,Vĩnh Tường đã trở thành một vùng quê có sản vật và con người rất phong phú, trở thành tác nhân văn học.

Nghệ thuật trình diễn dân gian: Trong các loại hình văn hoá phi vật thể ở Vĩnh Tường thì loại hình âm nhạc dân gian đến nay đã bị mai một nhiều. Hiện nay, trên địa bàn huyện vẫn còn được lưu giữ, bảo tồn và phát huy những thể loại như: hát xoan, hát cửa đình (Kim Xá), hát ghẹo (Thổ Tang), hát thờ (Cao Đại, Nghĩa Hưng), hát nhà trò (Vũ Di), thậm chí có làng còn thành lập gánh hát như gánh hát ở Vân Xuân. Đặc biệt, Vĩnh Tường cũng nổi tiếng với hát vè ở Tứ Trưng, các trò diễn dân gian như: Trâu rơm bò rạ (Đại Đồng), dồi đồng đáo (Bình Dương), cướp bông, gươm (Bồ Sao), hú đáo, kéo co (Lũng Hòa), đấu vật (Nghĩa Hưng), múa gậy, múa roi (Lý Nhân, Đại Đồng, Thượng Trưng, Nghĩa Hưng, Tuân Chính, Tam Phúc), bơi chải (Nghĩa Hưng), bơi thuyền (Tứ Trưng, Vĩnh Ninh), hội phong cầu (Kim Xá), hất phết (Tân Tiến), vật ông đô (Vĩnh Thịnh), tục săn cuốc (thị trấn Vĩnh Tường, Tân Tiến), bắt chạch trong chum (Tứ Trưng)…

Tập quán xã hội và tín ngưỡng: Vĩnh Tường là một huyện thuần nông, nhân dân chủ yếu sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp, cho nên tập quán xã hội và tín ngưỡng của người dân Vĩnh Tường mang đậm tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp như: thờ cúng tổ tiên, thờ thành hoàng làng, những người có công với làng, với nước. Tín ngưỡng này được thể hiện sinh động qua một số lễ hội như: Hội xuống đồng, vật ông đô, trình diễn trâu rơm, bò rạ, bắt chạch trong chum, nấu cơm thi, tiệc bánh chưng, bánh dầy, trình nghề gieo hạt…

Lễ hội truyền thống: Theo số liệu điều tra toàn huyện có 67 lễ hội, 148 lễ tiệc chính (Khai xuân, thánh hoá, sinh thánh…) và 209 lễ tiệc khác (xuống đồng, tiệc cơm mới, tiệc bún, cầu đinh…). Quy mô tổ chức thường theo làng nhưng có những lễ hội tổ chức với quy mô nhiều làng hoặc mang tính vùng miền như: Tiệc 18 xã (thờ Lý Nhã Lang Vương) có 18 xã thờ; Lễ hội đền Ngự Dội (thôn Duy Bình- xã Vĩnh Ninh cùng với Đền Và- thị xã Sơn Tây); lễ hội làng Tứ Trưng (4 làng Trưng), lễ hội làng Kiên Cương xã Ngũ Kiên, lễ hội làng Thượng Trưng xã Thượng Trưng…Như vậy, trên cơ sở đã điều tra, kiểm kê cho thấy trên địa bàn huyện Vĩnh Tường có những lễ hội tiêu biểu và được phân loại A, loại B, loại C cụ thể, loại A: Là những lễ hội có quy mô lớn, có rước, có tế, có trò chơi dân gian hay lễ vật dâng thánh đặc sắc; loại B: Là những lễ hội có rước, có tế, có trò chơi và lễ vật dâng thánh nhưng quy mô nhỏ; loại C: Là những lễ hội thiếu một trong những thành tố trên hoặc trong quá trình điều tra một số nơi không còn lưu giữ được trong lễ hội của làng mình.

Lễ hội Đền Ngự Dội.

Lễ hội Đền Ngự Dội.

Những lễ hội loại A gồm: Lễ hội làng Duy Bình (Vĩnh Ninh); Lễ hội làng Hoàng Xá (Vĩnh Thịnh); Lễ hội làng Thượng Trưng (Thượng Trưng); Lễ hội làng Phù Chính (Tuân Chính); Lễ hội làng Kiên Cương (Ngũ Kiên); Lễ hội làng Vân Giang (Lý Nhân); Lễ hội làng Thượng (Phú Đa); Lễ hội làng Hoàng Thượng (Kim Xá); Lễ hội 4 làng Trưng (Tứ Trưng); Lễ hội đền Đuông (Bồ Sao); Lễ hội làng Thổ Tang; Lễ hội làng Bàn Mạch (Phú Thịnh); Lễ hội làng Yên Lỗ (Yên Bình); Lễ hội làng Phủ Yên (Yên Lập); Lễ hội làng Lũng Ngoại, làng Hòa Loan (Lũng Hoà); Lễ hội làng Bích Đại, Đồng Vệ (Đại Đồng); Lễ hội làng Sơn Tang (Vĩnh Sơn); Lễ hội làng Phong Doanh (Bình Dương); Lễ hội làng Lan Điền; Lễ hội làng Cam Giá, làng Bích Chu (An Tường).

Những Lễ hội loại B gồm: Lễ hội làng Khách Nhi, làng An Lão (Vĩnh Thịnh); Lễ hội làng Vân Ổ, làng Xuân Húc (Vân Xuân); Lễ hội làng Tuân Lộ (Tuân Chính); Lễ hội làng Hậu Lộc (Vĩnh Ninh); Lễ hội làng Bàn Mạch (Lý Nhân); Lễ hội làng Hoàng Xá hạ, làng Hoàng Xá trung, đình cẩm Chiềm (Kim Xá); Lễ hội làng Phương Viên (Thổ Tang); Lễ hội làng Bàn Giang (Phú Thịnh); Lễ hội làng Thượng Lạp (Tân Tiến); Lễ hội làng Yên Trù (Yên Bình); Lễ hội làng Diệm Xuân (Việt Xuân); Lễ hội làng Bến Cả (Yên Lập); Lễ hội làng Đông Viên (Bình Dương); Lễ hội làng Vĩnh Lại (Chấn Hưng).

Những Lễ hội loại C gồm: Lễ hội làng Tân An, Yên Thọ (Ngũ Kiên); Làng Yên Định (Phú Đa); Làng Phú Thứ, làng Phú Hạnh (Thượng Trưng); Lễ hội làng Môn Trì, làng Hệ (Vĩnh Thịnh); Lễ hội làng Đông, làng Táo, làng Quảng Cư (Tuân Chính); Lễ hội làng Xuân Chiểu, làng Kim Xa (Vĩnh Ninh); Lễ hội làng Vân Hà (Lý Nhân); Lễ hội làng Đan Thượng, làng Yên Xuyên (Phú Thịnh); Lễ hội làng Lực Điền (Yên Bình); Lễ hội làng Phượng Lâu (Việt Xuân); Lễ hội làng Hội Chữ (Yên Lập); Lễ hội làng Cao Xá, làng Đại Định, làng Bình Trù (Cao Đại); Lễ hội làng Dẫn Tự, làng Hoà Lạc, làng Đồng Phú (Tân Cương); Lễ hội làng Phúc Lập, làng Quảng Cư, làng Phù Cốc (Tam Phúc); Lễ hội làng Kim Đê (An Tường); Lễ hội làng Yên Nhiên, làng Yên Trình, làng Xuân Lai, làng Vũ Di (Vũ Di); Lễ hội làng Sơn Kiệu, làng Yên Nội (Chấn Hưng); Lễ hội làng Lạc Trung (Bình Dương).

Ngày nay, số lượng lễ hội ở Vĩnh Tường được khôi phục còn rất khiêm tốn hoặc nếu có thì cũng không đầy đủ các sắc thái cổ truyền và không còn không gian văn hoá cổ xưa nữa.

Trong lễ hội loại A chỉ có 10/22 làng đã khôi phục được lễ hội, 5/22 làng không còn không gian để tổ chức lễ hội, 7/22 làng có không gian để tổ chức nhưng chưa khôi phục được. Tuy nhiên, số lễ hội được khôi phục chưa thể hiện một cách đầy đủ những thành tố quan trọng của một lễ hội cổ truyền như: lễ hội ở làng Vân Giang, lễ hội làng Phù Chính, lễ hội làng Duy Bình…chỉ có tế và rước mà không có trò chơi dân gian. Trong lễ hội loại B: có 8/18 làng đã khôi phục được lễ hội như: Lễ hội làng An Lão (Vĩnh Thịnh); Lễ hội làng Vân Ổ (Vân Xuân); Lễ hội làng Tuân Lộ (Tuân Chính); Lễ hội làng Hậu Lộc (Vĩnh Ninh); Lễ hội đình Cẩm Chiềm (Kim Xá); Lễ hội làng Phương Viên (Thổ Tang); Lễ hội làng Diệm Xuân (Việt Xuân); Lễ hội làng Vĩnh Lại (Chấn Hưng), 10/18 làng có không gian tổ chức lễ hội nhưng chưa khôi phục được.

Trong lễ hội loại C: có 3/37 làng tổ chức có rước, 12/37 làng không có không gian để tổ chức lễ hội, 17/37 làng đã có không gian tổ chức lễ hội nhưng chưa khôi phục được.

Nghề thủ công truyền thống: Cùng với việc canh tác nông nghiệp, ở Vĩnh Tường còn lưu giữ được các làng nghề thủ công truyền thống lâu đời như: Làng Rắn (Vĩnh Sơn), làng Mộc Bích Chu, Thủ Độ (An Tường), làng Rèn (Lý Nhân). Các làng nghề trên đã được UBND tỉnh cấp Bằng công nhận Làng nghề truyền thống.

Tri thức dân gian: Đó là sự hiểu biết của cộng đồng về tự nhiên- xã hội, về sản xuất, sáng tạo nghệ thuật và bản thân con người…Tri thức dân gian được truyền qua các thế hệ thông qua trí nhớ, truyền miệng và thực hành xã hội. Nó giúp cho con người có được những ứng xử thích hợp với môi trường tự nhiên, điều hoà các mối quan hệ xã hội, những hiểu biết cần thiết trong lao động, sản xuất, trong dưỡng sinh và trị bệnh…

Như vậy, qua bao đời nay, người dân Vĩnh Tường còn bảo lưu khá tốt những tri thức dân gian, đặc biệt là hiểu biết cơ bản về sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, trị bệnh và những kinh nghiệm ứng xử trong các mối quan hệ xã hội được chuyển hóa thành những câu tục ngữ, ca dao, thơ, ca, hò, vè,…

Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ này đã gặp những khó khăn như: Thực tế hiện nay, những di sản văn hóa phi vật thể thường chỉ còn nằm trong trí nhớ của những bậc cao tuổi, mà các bậc cao tuổi này còn sống rất ít hoặc trí nhớ cũng không còn minh mẫn nên việc ghi chép, sưu tầm gặp không ít trở ngại. Kinh phí chi cho nội dung này chưa thật sự đảm bảo vì chưa có sự hỗ trợ của các cấp và chương trình mục tiêu nên không thể kéo dài thời gian tìm hiểu, sưu tầm ở các thôn, làng do vậy kết quả thu thập được là chưa nhiều, chất lượng còn thấp và đặc biệt là những di sản có nguy cơ bị mai một thì việc thu thập càng khó khăn hơn.Việc lưu giữ qua máy móc thiết bị kỹ thuật còn đơn giản, chưa có thiết bị chất lượng bảo đảm nên khả năng bị hư hỏng rất nhiều.

Nhận thức của lãnh đạo một vài địa phương chưa cao, nhất là chưa thấy được tầm quan trọng đặc biệt của việc kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể nên chưa có sự tập trung chỉ đạo. Chỉ số đánh giá chưa có, nên xác định loại hình văn hóa nào là di sản văn hóa vật thể và phi vật thể ở địa phương gặp rất nhiều khó khăn.

Trong những năm tiếp theo đề nghị Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tiếp tục giúp huyện thực hiện việc phân loại, đánh giá thực trạng của từng di sản văn hóa, hoàn chỉnh những tư liệu đã kiểm kê được. Lưu giữ, bảo tồn và phát huy giá trị của mỗi di sản trong quá trình phát triển kinh tế- văn hóa xã hội.

Hiện nay, cho dù thời gian có phủ đầy lên theo năm tháng và một số trò diễn chỉ còn là ký ức. Do nhu cầu tâm linh văn hoá, một số lễ hội và trò chơi dân gian truyền thống đã được phục hồi, nhưng chưa khai thác đầy đủ các nội dung của phần lễ và các tình tiết trò diễn của phần hội, chưa thể hiện rõ nét các giá trị văn hoá truyền thống.

Đề nghị các cấp chính quyền, các ngành và nhân dân quan tâm để những nét đẹp văn hoá cổ xưa được khơi dậy, giữ gìn và phát huy tốt trong cuộc sống hôm nay, làm đậm đà thêm bản sắc văn hoá dân tộc. Xây dựng mô hình làng văn hóa du lịch đặc trưng tổ chức các hoạt động văn hóa thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội góp phần nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân và giáo dục các giá trị truyền thống cho thế hệ mai sau, xứng đáng với truyền thống của miền quê Văn hiến Anh hùng./.

Trả lời

Tin tức khác