Vua Duy Tân- Vị vua yêu nước

Tác giả: Nguyễn Văn Thương

Đúng 100 năm trước, trên giải đất Trung kì đã diễn ra một sự kiện bi hùng có tiếng vang lớn, để lại dấu ấn không phai mờ trong lịch sử chống xâm lăng của dân tộc. Đó chính là cuộc khởi nghĩa bất thành ở Trung kì năm 1916. Lãnh đạo cuộc khởi nghĩa bất thành do Thái Phiên và Trần Cao Vân – những thành viên của Việt Nam Quang Phục hội – tổ chức và lãnh đạo đã giương cao ngọn cờ yêu nước của vua Duy Tân.

Ảnh chụp vua Duy Tân năm 1907.

Ảnh chụp vua Duy Tân năm 1907.

Lòng yêu nước của vua Duy Tân
Sau khi phế truất vua Thành Thái, thực dân Pháp đưa hoàng tử Nguyễn Phúc Vĩnh San lúc bấy giờ mới 7 tuổi lên nối ngôi để dễ bề thao túng. Lễ tấn tôn được tổ chức vào ngày 28/7 Đinh Mùi (5/9/1907). Nhà vua mới lấy niên hiệu là Duy Tân.
Vua còn nhỏ nên triều đình Huế với sự đồng ý của thực dân Pháp lập một phủ Phụ chính để hợp tác với Pháp trông coi việc nước, đồng thời mời ông Mai Khắc Đôn vào dạy Nho học và Tiến sĩ sinh vật Ebérhardt dạy kiến thức Tây học cho nhà vua. Vua Duy Tân tuy còn nhỏ nhưng tỏ ra là một người thông minh, chững chạc, hiên ngang, lỗi lạc và sớm có tinh thần bài Pháp.
Cũng như vua cha Thành Thái, Duy Tân cảm thông được nỗi cơ cực của quần chúng nhân dân và đã biểu lộ một tình thương đối với những người dân cùng khổ. Vụ Kháng thuế ở Trung Kì nổ ra, đặc biệt là ở Huế năm 1908 là sự kiện đầu tiên thể hiện tấm lòng của vị vua trẻ với dân với nước. Nhân dân chiếm cầu Tràng Tiền suốt mấy ngày mà thực dân Pháp không dẹp được, tuy nhiên khi xe nhà vua đi qua thì dân chúng gạt qua hai bên cho xe vua đi. Nhìn thấy cảnh dân chúng rách rưới, đói khát đang kêu giảm thuế, vua Duy Tân nuốt nước mắt đi qua chứ không làm theo lệnh của thực dân Pháp là hò hét giải tán nhân dân. Nhà vua đề nghị với đình thần trích 3/5 số lương tháng của mình để giúp đỡ những người hoạn nạn.
Đối với người Pháp, vua Duy Tân luôn tỏ ra thái độ trịch thượng xem thường, không tự ti, mặc cảm, không làm mất danh dự của một vị vua. Ngay trong lễ đăng quang, vua Duy Tân đã khiển trách một y sĩ người Pháp vì không mặc đại phục.
Sử sách còn ghi lại nhiều giai thoại thể hiện khí phách của vua Duy Tân từ lúc lên ngôi cho đến ngày nhận lời tham gia lãnh đạo cuộc khởi nghĩa:
Lúc vua Duy Tân 12 tuổi, trong một lần dự tiệc ở tòa Khâm sứ, có một viên cố đạo thông thạo tiếng Việt Nam và chữ Hán đã ra cho nhà vua trẻ một vế đối hết sức xấc láo:
Rút ruột ông vua, tam phân thiên hạ.
Chữ vương (王) là vua, nếu bỏ nét dọc thành chữ tam (三). Câu này ám chỉ việc chính quyền Bảo hộ chia nước ta thành ba kì.
Vua Duy Tân ứng khẩu đối ngay:
Chặt đầu thằng Tây, tứ hải giai huynh.
Chữ tây (西) nếu bỏ phần phía trên thì thành chữ tứ (四).
Câu đối tuy không chọi nhưng thể hiện được thái độ căm ghét người Pháp của nhà vua trẻ [4, tr.334].
Đối với các quan lại của Nam triều và những người gần gủi thì vua Duy Tân thường phê phán những người an phận, buông xuôi với thời cuộc. Trong một lần nghỉ mát tại cửa Tùng, nhà vua thi chạy với các quan tháp tùng. Nhà vua đã nói với họ: “các thầy không thể chạy được thì làm sao các thầy đánh giặc được”[1, tr.27]. Một bữa khác nhà vua mới tắm biển lên, tay còn dính nhiều cát, người thị vệ bưng một thau nước ngọt mời nhà vua rửa tay; vua Duy Tân rửa tay và hỏi “Khi tay bẩn thì lấy nước mà rửa, khi nước bẩn thì lấy chi mà rửa?”. Người thị vệ lúng túng, nhà vua nói luôn : “Nước bẩn thì phải tìm cách trừ khử những chất ngoại lai lẫn lộn vào trong đó, có hiểu không?”[2, tr.115]. Lần khác nữa, nhà vua đi dạo ở Phu Văn Lâu có quan Thượng thư Nguyễn Hữu Bài đi theo. Vua Duy Tân ra một vế đối:
Ngồi trên nước không ngăn được nước
Trót buông câu nên lỡ phải lần.
Nguyễn Hữu Bài đối lại:
Nghĩ việc đời mà ngán cho đời
Đành nhắm mắt đến đâu hay đó.
Vua Duy Tân phản ứng ngay: “Nói như thế thì hóa ra thầy là người cam chịu bó tay trước số mạng. Theo ý trẫm như thế thì buòn lắm. Phải có ý chí vượt gian khổ, vượt khó khăn để tiến lên thì đời sống mới có ý nghĩa”[2, tr.117].
Những giai thoại vừa kể trên chưa thể kiểm chứng thực hư nhưng luôn được truyền tụng từ trước đến nay như là một sử liệu đáng tin cậy, bởi hành động của vua Duy Tân trong cuộc khởi nghĩa bất thành năm 1916 đã minh chứng hùng hồn điều đó.
Khi Khâm sứ Georges Marie Mahé cho đào bới lăng Tự Đức nhà vua đã thể hiện sự cứng rắn của mình khi yêu cầu viên Khâm sứ phải thực hiện đúng các quy trình do nhà vua yêu cầu. Sau đó quan hệ hai bên vô cùng căng thẳng. Tháng 8/1915 và tháng 10/1915 lại tiếp tục diễn ra hai cuộc đào kho báu trong hoàng cung. Vua Duy Tân đã phản ứng gay gắt đến nổi Khâm sứ tại Huế tỏ ra lo lắng và phải báo cáo tình hình với Toàn quyền Đông Dương.
Trong buổi thiết triều ngày 7/11/1915 nhà vua đã phê phán chính quyền Bảo hộ không tôn trọng những điều khoản trong Hiệp ước Giáp Thân 1884 (Hiệp ước Patenôtre).
Vua Duy Tân căm ghét người Pháp là do nhà vua ý thức được nỗi nhục mất nước, do Pháp hành xử thậm tệ với vua cha Thành Thái, với lăng tẩm tổ tiên. Ông sớm bày tỏ thái độ bất bình, bất hợp tác với Pháp ra mặt khi người Pháp xúc phạm đến phong tục của người Việt Nam. Được biết nhà vua có tư tưởng yêu nước thương dân, các nhân vật quan trong trong Việt Nam Quang phục hội đã bí mật liên lạc với nhà vua cùng mưu bàn việc lớn.
Vua Duy Tân tham gia cuộc vận động khởi nghĩa
Năm 1912 Phan Bội Châu từ Xiêm về Hoa Nam – Trung Quốc đã cải tổ Duy Tân hội thành Việt Nam Quang phục hội để tiếp tục cuộc vận động cứu nước. Sau khi có tuyên ngôn và thông báo chủ trương của hội về trong nước, Kỳ bộ Việt Nam Quang phục hội ở Trung Kì được thành lập. Tôn chỉ của hội là đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, giành lại độc lập tự do cho dân tộc. Trần Cao Vân, Thái Phiên, Phan Thành Tài, Lê Ngung … là những người tiên phong gia nhập Việt Nam Quang phục hội và được giao những chức vụ trọng yếu trong kỳ bộ Trung kì.
Tháng 9/1915 đại hội lần thứ I của Hội diễn ra tại nhà ông Đoàn Bổng tại Huế quyết định trong năm 1916 sẽ tiến hành một cuộc khởi nghĩa lật đổ nền thống trị của Pháp. Tại đại hội lần thứ II (2/1916) việc mời vua Duy Tân tham gia khởi nghĩa được thảo luận rất kĩ vì nó liên quan tới vấn đề chính thể. Cuối cùng đại hội nhất trí mời nhà vua tham gia vào cuộc khởi nghĩa để yên lòng dân chúng. Hội nghị cũng quyết định kiểm soát lại và chỉnh đốn các tổ chức trong nhân dân các địa phương, trong các cấp lính Nam triều, nhất là đoàn lính mộ sắp đi Pháp; tổ chức bộ máy hành chính thay thế bộ máy cũ khi khởi nghĩa thành công.
Như vậy có thể thấy rằng, Việt Nam Quang Phục hội đã tìm đến vua Duy Tân vì còn tin vào uy tín với nhân dân và tin vào tinh thần chống Pháp của vị vua trẻ. Chính vì vậy, họ đã chấp nhận một giải pháp khởi nghĩa có sự tham gia của vua Duy Tân, coi đó như là một điều kiện để dẫn đến sự thành công.
Người cách mạng mà vua Duy Tân gặp đầu tiên là Khóa Bảo (1860 – 1920) ở chợ phiên Cam Lộ trong dịp nhà vua ra của Tùng nghỉ mát. Qua Khóa Bảo nhà vua hiểu hơn về thời cuộc, còn Khóa Bảo qua những lần nói chuyện thấy nhà vua có tư tưởng tiến bộ, có thái độ phản kháng với chính quyền Bảo hộ và cả Nam triều. Khóa Bảo đã báo cáo tình hình cho Thái Phiên, Trần Cao Vân.
Một kế hoạch tìm gặp vua Duy Tân đã được đặt ra. Việt Nam Quang phục hội đã bỏ ra một khoản tiền lớn để thương lượng với người lái xe của nhà vua, yêu cầu người này nghỉ việc và giới thiệu Phan Hữu Khánh là người của Hội thay thế. Nhờ tài năng và đức độ nên Phan Hữu Khánh nhanh chóng được nhà vua cảm mến. Trần Cao Vân viết một bức thư dài và dặn Khánh khi nào có dịp thì dâng lên nhà vua. Bức thư với lời lẽ lâm ly, thống thiết đã khơi dậy ở nhà vua một cảm kích lớn về cảnh mất nước, nhân dân lầm than, khổ đau, nỗi uất ức về vua cha bị tù đày, mộ tổ tiên bị đào xới. Nhà vua vô cùng cảm động và yêu cầu được gặp trực tiếp với người viết thư.
Ngày 14/4/1916 nhân có cuộc duyệt binh của binh lính Trường Thi chẩn bị sang chiến trường châu Âu, vua Duy Tân thân chinh ngự xem, Nguyễn Quang Siêu và Phan Hữu Khánh đã tổ chức cho Thái Phiên giả làm hai ông câu chéo thuyền thong thả câu để đợi nhà vua. Xong cuộc duyệt binh nhà vua đi bộ theo sông Ngự Hà rồi bí mật tạt vào Hậu Hồ để gặp hai nhà yêu nước mà bấy lâu vua mong đợi. Thái Phiên và Trần Cao Vân đã mời nhà vua tham gia cuộc khởi nghĩa, hai ông cũng báo cáo chi tiết tình hình chuẩn bị và kế hoạch khởi nghĩa vũ trang cho nhà vua. Nhà vua đã đồng ý tham gia khởi nghĩa, về việc chính thể nhà nước thì vua Duy Tân xác định khi cách mạng thành công sẽ do quốc dân quyết định, nhà vua cũng đề nghị cuộc khởi nghĩa diễn ra sớm hơn kế hoạch ban đầu của Việt Nam Quang phục hội.
Ngày 5/5/1915 chính tay nhà vua viết ra một bản chỉ dụ kêu gọi thần dân trong nước nổi dậy hưởng ứng cuộc đấu tranh chống Pháp. Không rườm rà hoa mĩ, chỉ với vài câu ngắn gọn lắng đọng, cô đúc, nhà vua xoáy sâu vào nguyện vọng, tâm tư của thần dân lúc bấy giờ trước ách thống trị của kẻ thù. Nhà vua đã thống thiết kêu gọi nhân dân hãy tập hợp về một địa điểm để cùng nhau mưu sự vì đại nghĩa dân tộc. Qua bức chỉ dụ nhà vua cũng chỉ định những người đứng ra gánh trọng trách chỉ huy quân khởi nghĩa ở những cương vị khác nhau. Ngày 29/4/2016, khi sắp đến ngày khởi nghĩa, vua Duy Tân còn ban bố mật chiếu ra lệnh khởi nghĩa vào đêm ngày 3 rạng sáng ngày 4/5/1916.
Trong điều kiện thực dân Pháp và Nam triều giám sát, kiềm chế đến mức gay gắt, khắc nghiệt, nhà vua vẫn âm thầm liên lạc được với các nhà cách mạng để có được những thông tin cần thiết, đưa ra được những quyết định về địa điểm, về nhân sự như thế, đó không gì khác hơn là một bản lĩnh kiên cường, bất khuất, một ý chí, một quyết tâm sắt đá, một lòng hy sinh lớn lao vì đại nghĩa dân tộc.
Như vậy vua Duy Tân tham gia phong trào khi mà công việc chuẩn bị khởi nghĩa về cơ bản đã hoàn thành. Vua Duy Tân trong điều kiện có thể của mình cũng đã cố gắng lôi kéo những người hoàng tộc, thị vệ tham gia khởi nghĩa, nhà vua cũng quan tâm, động viên những đồng chí của mình trong mưu đồ sự nghiệp. Bên cạnh đó nhà vua cũng kí các quyết định, văn bản, mật ước… trong kế hoạch khởi nghĩa cho thấy nhà vua hoàn toàn chủ động và luôn cố gắng cao nhất có thể để phục vụ cho phong trào.
Cuộc khởi nghĩa bất thành của Việt Nam Quang Phục hội tại Trung Kì
Theo kế hoạch cuộc Tổng khởi nghĩa sẽ diễn ra vào một giờ sáng ngày 3/5/1916 bằng cách bắn súng thần công từ Huế báo hiệu cho Quảng Bình, Quảng Trị, đồng thời nổi lửa trên đèo Hải Vân báo hiệu cho Quảng Nam, Quảng Ngãi. Riêng tại Huế, Thái Phiên và Trần Cao Vân có trách nhiệm điều động quan chiếm lấy kinh thành, mặt khác có trách nhiệm rước vua Duy Tân rời khỏi Hoàng cung. Nếu cuộc khởi nghĩa chưa thành công thì sẽ tạm thời rút lên vùng núi Bà Nà để chờ thời cơ phản công.
Vua Duy Tân nôn nóng khởi nghĩa vì sợ để lâu ắt dễ bị lộ. Điều mà nhà vua lo lắng cuối cùng cũng xẩy ra. Cuộc khởi nghĩa chưa kịp nổ ra do bị bại lộ ở Quảng Ngãi. Tại đây có một người lính khố xanh tên là Võ An vốn người của Việt Nam Quang phục hội đã tiết lộ kế hoạch khởi nghĩa cho người em ruột tên là Võ Huệ, đồng thời khuyên Võ Huệ nên xin nghĩ phép để tránh cuộc tấn công của quân khởi nghĩa. Chiều ngày 1/5/1916 Võ Huệ xin phép quan Án sát Quảng Ngãi là Phạm Liệu để về thăm nhà. Phạm Liệu vốn đã nghe phong thanh về cuộc khởi nghĩa nhưng chưa lần ra đầu mối, nay thấy Võ Huệ xin nghỉ phép bất ngờ nên đã vặn hỏi và đe dọa Võ Huệ. Cuối cùng Võ Huệ phải khai thật những gì Võ An đã nói. Phạm Liệu lập tức giam Võ Huệ, cho lính đi bắt Võ An đồng thời cấp tốc báo cho Công sứ Quảng Ngãi là De Tastes. Qua tra khảoVõ An thì Phạm Liệu đã lần ra một nhân vật quan trọng của Quang phục hội là Trần Thiềm vốn đang làm việc cho Công sứ De Tastes. Công sứ De Tastes lập tức khai thác Trần Thiềm biết rõ toàn bộ kế hoạch khởi nghĩa, sau đó mật báo về cho Khâm sứ tại Huế.
Khâm sứ tại Huế lập tức ra lệnh cho các đồn binh lính người Nam tại Quảng Ngãi, Quảng Nam, Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Bình phải cất súng vào kho và ra lệnh giới nghiêm, cấm đi ra ngoài. Mọi việc tuần tra đều do lính Pháp đảm nhiệm. Khâm sứ bịt kín các nguồn tin, làm như không có chuyện gì.
Không thể liên lạc với các trại lính người Nam tại kinh thành Huế, Thái Phiên và Trần Cao Vân biết là tình hình rất bất lợi. Tuy vậy hai ông vẫn cho thuyền đến đón nhà vua tham gia khởi nghĩa tại bến Thương Bạc như kế hoạch ban đầu. Khoảng hơn 23 giờ đêm 3/5/1916 vua Duy Tân và hai người thị vệ là Tôn Thất Đề, Nguyễn Quang Siêu xuất hiện. Vừa đến bến Thương Bạc nhà vua gặp ngay Trần Quang Trứ là người của tổ chức hiện đang làm Phán sự tại tòa Công sứ Thừa Thiên. Chính Trần Quang Trứ sau đó đã đi tới tòa Khâm sứ báo cáo việc vua Duy Tân xuất cung tham gia khởi nghĩa. Thực dân Pháp lập tức có kế hoạch bắt vua Duy Tân và các thủ lĩnh khởi nghĩa. Sự phản bội này đã dẫn tới một kết quả bi thảm của cuộc khởi nghĩa tại Huế.
Sau khi vua đến bến Thương Bạc, Thái Phiên và Trần Cao Vân rước nhà vua xuống thuyền đi về làng Hà Trung thuộc huyện Phú Vang. Đến 3 giờ sáng ngày 4/5/1916 tất cả nóng lòng chờ phát súng báo hiệu tấn công nhưng không thấy động tĩnh gì. Biết sự việc đã thất bại, Thái Phiên và Trần Cao Vân đưa nhà vua rời khỏi Hà Trung đi theo đường núi để vào Quảng Nam, Quảng Ngãi. Sau một đêm không ngủ, vua tôi đều mệt nhọc nên phải tạm nghỉ lại tại chùa Thuyền Tôn (tại xã Thủy An ngày nay). Tại đây vua tôi đến nhà Đội Cơ, là một người trong tổ chức. Tuy nhiên em của Đội Cơ là Trùm Tồn (làm nghề rao mõ) lại đi mật báo cho nhà cầm quyền. Sáng 6/5/1916 vua Duy Tân và những người đi cùng chuẩn bị đi thì bị địch ập vào, chúng dùng áp lực đưa nhà vua về tòa Khâm.
Do không nhận được lệnh phát động cuộc khởi nghĩa từ Huế trong đêm 3/5/1916 nên nghĩa quân ở các tỉnh tư giải tán hoặc bị Pháp giải tán. Duy nhất chỉ có phủ Tam Kì ở tỉnh Quảng Nam là có xẩy ra một cuộc khởi nghĩa thật sự. Từ chiều ngày 3/5 các đội nghĩa binh khoảng 650 người tập trung tại căn cứ Gò Chùa làm lễ tế cờ Ngũ tinh và xuất quân. Đoàn nghĩa binh hướng về phủ lị Tam Kì. Lê Tiện dẫn một đội nghĩa binh đánh chiếm đồn Trà My. Nguyễn Tình chỉ huy một đội nghĩa binh khác đánh chiếm đồn Thương Chánh, Hiệp Hòa. Trần Huỳnh, Trần Ny, Trầm Tùng Vân chỉ huy một đội nghĩa binh lớn nhằm đánh chiếm phủ đường Tam Kì và đồn Đại lý Pháp.
Thực dân Pháp đã biết trước kế hoạch nên kế hoạch chuẩn bị đối phó. Nghĩa quân đã chiến đấu anh dũng, nhưng do tương quan lực lượng nghiêng về phía địch nên sau một thời gian làm chủ phủ lỵ Tam Kì nghĩa quân phải rút lui về các làng và lo đối phó với giặc. Thực dân Pháp yêu cầu quân của Nam triều phối hợp lùng bắt nghĩa quân, chỉ trong mấy ngày đã bắt trên 500 người về phủ đường. Nhiều vị chỉ huy, cốt cán Trần Huỳnh, Trầm Tùng Vân, Trần Khuê… lần lượt bị giặc bắt và xử tử.
Tại Quảng Ngãi, hầu hết các chỉ huy khởi nghĩa và nhiều binh lính, dân binh hưởng ứng lời kêu gọi của Việt Nam Quang Phục hội đều bị bắt. Các thủ lĩnh như Nguyễn Thụy, Trần Thêm, Võ Cẩn, Võ Cư, Mai Tuấn lần lượt bị bắt và sau đó bị xử chém.
Sau khi bắt được vua Duy Tân, Khâm sứ Charles và Toàn quyền Đông Dương thuyết phục nhà vua trở lại ngôi báu nhưng nhà vua đã từ chối. Bất lực trong việc thuyết phục nhà vua, thực dân Pháp đưa nhà vua ra xét xử công khai. Thượng thư Hồ Đắc Trung được ủy nhiệm thảo bản án. Nhờ có Hồ Đắc Trung mà nhà vua được xử nhẹ hơn, khỏi bị chém, tuy nhiên nhà vua bị đày sang đảo La Réunion – thuộc địa của Pháp ở châu Phi. Các ông Thái Phiên, Trần Cao Vân, Tôn Thất Đề, Nguyễn Quang Siêu bị xử tử ở pháp trường của An Hòa.

***

Cuộc khởi nghĩa bất thành tháng 5/1916 của Việt Nam Quang Phục hội tại Trung kì là một bộ phận của phong trào dân tộc Việt Nam trong thời kì Chiến tranh thế giới thứ nhất. Cuộc khởi nghĩa bất thành tại Trung kì là sự tiếp nối phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản đầu thế kỉ XX dưới sự lãnh đạo của tầng lớp sĩ phu cấp tiến. Đây là sự kế thừa truyền thống yêu nước, đấu tranh bất khuất của dân tộc trong chống ngoại xâm.
Trong quá trình chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa, các lãnh đạo Thái Phiên và Trần Cao Vân có vua Duy Tân tham chính, đã nhạy bén nhận thức đúng thời cơ chung, đã tiến hành một cuộc vận động lớn để tiến tới khởi nghĩa lớn trên phạm vi rộng lớn ở Trung kì. Với bối cảnh trong nước và thế giới những năm 1915 – 1916, những nhà lãnh đạo của cuộc khởi nghĩa đã có nhiều cố gắng trong việc giải quyết những vấn đề đặt ra về mục đích cuộc khởi nghĩa, về lực lượng khởi nghĩa, về kế hoạch khởi sự…Cuộc khởi nghĩa bất thành tại Trung kì là một điển hình của phong trào dân tộc đầu thế kỉ XX, là một trong những minh chứng cụ thể của việc chớp thời cơ đấu tranh giải phóng dân tộc khi chiến tranh đế quốc nổ ra. Cuộc khởi nghĩa bị đàn áp dã man từ trong trứng nước do kế hoạch bị lộ, nhưng xét về mặt bản chất là do không đáp ứng được yêu cầu của thời cơ khi chiến tranh thế giới nổ ra. Kết cục ấy không chỉ là của riêng cuộc vận động khởi nghĩa ở Trung kì, mà trở thành kết cục chung của nhiều mưu tính và cuộc bạo động xẩy ra trước và sau năm 1916. Sự thất bại chung ấy đặt ra cho phong trào dân tộc Việt Nam đầu thế kỉ XX nói riêng, phong trào dân tộc ở thuộc địa nói chung một kinh nghiệm xương máu về vận động chuẩn bị khởi nghĩa khi thời cơ đến; và quá trình ấy chỉ có thể thực sự bắt đầu với điều kiện phải có một tổ chức chính trị có đường lối cách mạng phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, đáp ứng đúng nhiệm vụ lịch sử của dân tộc. Thực tế phong trào cách mạng sau đó, nhất là thời kì 1930 – 1945 càng cho thấy bài học từ cuộc khởi nghĩa bất thành năm 1916 ở Trung kì của Việt Nam Quang Phục hội có giá trị lịch sử sâu sắc có chừng nào.
Điều đặc biệt nhất trong thành phần lãnh đạo của cuộc khởi nghĩa bất thành là sự có mặt của vua Duy Tân – vị vua trẻ tuổi giàu lòng yêu nước và lòng tự tôn dân tộc. Mặc dù không phải là người khởi xướng và lãnh đạo ngay từ đầu, nhưng sự tham gia của nhà vua ở thời điểm quan trọng và đi cùng lực lượng nghĩa binh cho đến kết cục khởi nghĩa chính là một dấu son rực rỡ, tô thắm giá trị của sự kiện tháng 5/1916. Tinh thần yêu nước và khí phách của vua Duy Tân đã tạo nên vị trí vĩnh hằng của bậc minh quân trong lịch sử và trong lòng dân tộc.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Trương Đàn, Vua Duy Tân 1916, Nxb Văn học, 2014.
2. Phạm Khắc Hòe, Kể chuyện vua quan nhà Nguyễn, Nxb Thuận Hóa, 1992.
3. Hà Minh Hồng – Lê Hữu Phước – Trần Thuận – Trần Thị Mai – Trần Nam Tiến – Lưu Văn Quyết – Huỳnh Bá Lộc, Cuộc vận động khởi nghĩa ở Trung kì năm 1916, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2016.
4. Đinh Xuân Lâm – Trương Hữu Quýnh, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, Nxb Giáo dục, 2005.
5. Hoàng Ngọc Phách – Kiều Thu Hoạch, Giai thoại văn học Việt Nam, Nxb Văn học, 1965.
6. Dương Kinh Quốc, Việt Nam những sự kiện lịch sử (1858 – 1918), Nxb Giáo dục, 2001.
7. Mathilde Tuyết Trần, Dấu xưa: Tản mạn lịch sử nhà Nguyễn: Biên khảo lịch sử, Nxb Trẻ, 2012.
8. Nguyễn Lý Tưởng, Sau 90 năm “Vua Duy Tân khởi nghĩa thất bại (1916 – 2006), đi tìm “ngôi mộ bí mật” của hai vị liệt sĩ Thái Phiên và Tràn Cao Vân, Nguyệt san Chính Việt, số 10, 2007.
9. Nguyễn Đắc Xuân, Chín đời Chúa mười ba đời Vua Nguyễn, Nxb Thuận Hóa. 2001.

Gửi phản hồi

Tin tức khác